Bàn thêm về đào tạo nhân tài
15/12/2004
Nhân tài là kết quả của sự vận động tương tác giữa phẩm chất chủ quan của cá nhân với nhu cầu của đất nước và sự phát triển của thời đại. Đào tạo nhân tài, nhất là những nhân tài lỗi lạc, là một vấn đề khác. Theo cách hiểu của chúng ta, nhân tài kiệt xuất nào cũng đều là sản phẩm của những điều kiện lịch sử -- xã hội nhất định. Nước Việt Nam ta có hơn 80 triệu dân, tiềm tàng trong đó không ít nhân tài. Có thể như Bác Hồ đã nói: «E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc hiền tài chưa thể xuất thân».
A. Với ý thức rằng: thế kỷ XXI là thế kỷ chiến tranh trí lực, thế kỷ cạnh tranh nhân tài, từ những thập niên cuối thế kỷ trước, nhiều quốc gia đang phát triển đã sớm thấy phải chuyển dịch chiến lược: từ lấy khai thác nguồn lực tự nhiên làm trọng tâm sang khai thác nguồn lực con người làm trọng tâm, trong đó nguồn nhân tài giữ vai trò chủ đạo. Hàn Quốc sớm đề ra «chiến lược đào tạo nhân tài» từ cuối những năm 80, đưa ngân sách giáo dục lên mức cao, chỉ sau ngân sách quân sự; họ đầu tư vào xây dựng thành phố khoa học, các khu công nghệ cao,.. .. nhằm đào tạo ra những thế hệ chuyên gia, học giả tài năng, đạt trình độ khoa học -- công nghệ cao của thế giới về một số ngành mũi nhọn nào đó. Trung Quốc ở thập niên 90, dưới sự chỉ đạo của tư tưởng Đặng Tiểu Bình, cũng đề ra «chiến lược đào tạo, thu hút và sử dụng nhân tài». Cả nước Trung Hoa sôi nổi bàn luận về nhân tài, các địa phương đã đưa ra nhiều phương châm, khẩu hiệu khá mạnh dạn: «Giải phóng tư tưởng, giải phóng nhân tài» (Giang Tô), «Đảng vi cương, nhân tài vi soái» (thành phố Chu Hải -- Quảng Đông), v.v.. ..
Đại hội VII (1991) và Đại hội VIII (1996) của Đảng ta khi bàn về chiến lược con người cũng nêu lên 3 mục tiêu tổng quát «nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài».
Như vậy, cụm từ «đào tạo nhân tài» đã được dùng khá phổ biến trên sách báo. Nhưng gần đây lại có người đặt vấn đề: có thể đào tạo được nhân tài hay không? Nói như vậy có chính xác về mặt thuật ngữ và liệu có phù hợp với thực tế hay không?
Tuần báo Văn nghệ số 43 (23--10--2004) có đăng bài «Về đào tạo và sử dụng nhân tài» của GS Bùi Trọng Liễu (Đại học Paris), phần đầu bài viết Giáo sư có đề cập đến vấn đề này. Bài viết của Giáo sư Bùi rất tâm huyết và có nhiều lập luận thuyết phục. Tác giả đã dẫn ra cuộc đời của các danh nhân thuộc nhiều lĩnh vực, như kỹ sư G. Eiffel (1832--1923), nhà vật lý đoạt giải Nobel A. Kastler (1902--1984), nhà toán học L. Schwartz (1915--2002), doanh nhân L. Renault (1877--1944) để chứng minh rằng: trong số họ, có người chỉ có bằng tú tài, có người thời học sinh không phải là người học giỏi nhất, còn tài năng của họ được hình thành chủ yếu sau khi ra trường, là kết quả của một quá trình học tập, rèn luyện và không ngừng vươn lên trong thực tiễn lao động, nghiên cứu, học tập, sáng tạo, phát minh, chứ không trường nào «đào tạo» được ra họ cả.
Tiêu biểu nhất là trường hợp của GS Hoàng Xuân Hãn (1908--1996). Thuở du học ở Pháp ông học Trường Bách khoa (Polytechnique) tốt nghiệp kỹ sư cầu đường, sau đó lại sang học về toán, đỗ agrégé, về nước được chính quyền thuộc địa Pháp bổ nhiệm làm giáo sư trung học ở Trường Bưởi, đồng thời có được mời dạy thêm ở đại học với tư cách giảng viên. Tuy nhiên, sau này GS Hoàng Xuân Hãn lại nổi danh là một học giả uyên thâm với các công trình khảo cứu công phu về văn, sử -- một lĩnh vực chẳng có liên quan gì với những điều ông đã học trong các nhà trường trước kia cả.
Tôi cũng nghĩ rằng, nếu ai nói các nhà cách mạng lừng danh của nước ta, như Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Tố Hữu,.. .. là do Trường Quốc học Huế «đào tạo» ra, hoặc các đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Phạm Văn Đồng,.. .. là do Trường Bưởi «đào tạo» ra, thì chắc ngay các trường nói trên cũng không dám nhận cái vinh dự to lớn ấy, mặc dù các nhà cách mạng đã kể trên, người ít người nhiều, đều có một thời gian từng ngồi học tại các ngôi trường nổi tiếng này.
Tóm lại, theo Giáo sư Bùi, nói «đào tạo nhân tài» chỉ nên hiểu với ý nghĩa: các trường đó đã «đào tạo ra những người có sự hiểu biết đúng đắn để có thể trở thành những nhân tài cho đất nước».
Về khía cạnh này, tôi hoàn toàn nhất trí với Giáo sư Bùi và xin bổ sung thêm: nói mở trường để đào tạo ra tài năng nổi trội về một công việc nào đó đã là một việc rất khó, huống chi nói đến đào tạo ra nhân tài cho đất nước với ý nghĩa là những người có tài năng xuất sắc, có những cống hiến sáng tạo trong một lĩnh vực nhất định, góp phần hữu ích vào sự phát triển của đất nước, thúc đẩy cuộc sống tiến lên. Như vậy, theo tôi hiểu, thước đo nhân tài không phải ở danh vị, chức sắc công hầu của anh ta, mà như cách hiểu của Bill Gates: anh có sáng tạo được cái gì mới không? Có làm được điều gì giúp cho cuộc sống được cải thiện tốt hơn không? Còn phát minh vượt thời đại, góp phần thay đổi thế giới, điều đó lại thuộc về các nhân tài kiệt xuất -- các thiên tài!
Ở nước ta, hiện có những trường bồi dưỡng năng khiếu: trường viết văn, trường âm nhạc, trường mỹ thuật,.. .. mà người được tuyển chọn vào trước hết phải là người có những tố chất, thiên hướng, sở trường được bộc lộ rõ rệt về một trong các lĩnh vực nói trên, nhà trường chỉ làm cái việc chăm chút, bồi dưỡng, nâng đỡ cho các năng khiếu sẵn có đó được phát triển lên, còn có thành một tài năng thật sự hay không, điều đó chỉ có cuộc sống sau này mới trả lời chính xác được.
Còn nói đến đào tạo nhân tài, nhất là những nhân tài lỗi lạc, lại là một vấn đề khác. Theo cách hiểu của chúng ta, nhân tài kiệt xuất nào cũng đều là sản phẩm của những điều kiện lịch sử -- xã hội nhất định. Nhân tài là kết quả của sự vận động tương tác giữa phẩm chất chủ quan của cá nhân với nhu cầu của đất nước và sự phát triển của thời đại.
Sự xuất hiện của một thế hệ các nhân vật khổng lồ thời đại Phục Hưng, bắt đầu từ cuối thế kỷ XV, không phải là ngẫu nhiên. Họ là sản phẩm của một thời kỳ lịch sử ở Tây Âu, khi mà tầng lớp thị dân, dựa vào quyền lực của nhà vua, đã đập tan thế lực của quý tộc, phong kiến, dọn đường cho xã hội tư sản phát triển; là thời đại của cuộc cải cách tôn giáo đã lật đổ nền chuyên chính tinh thần của Giáo hội; là việc khoa học địa lý phát hiện ra trái đất tròn, đặt nền móng cho sự ra đời một nền thương nghiệp thế giới, nó thúc đẩy sự chuyển đổi từ sản xuất thủ công sang công trường thủ công, v.v.. .. Nói như Ăngghen, «đó là một cuộc đảo lộn tiến bộ lớn nhất mà từ xưa tới nay nhân loại chưa từng thấy, là một thời đại cần có những con người khổng lồ và đã sinh ra những con người khổng lồ: khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, về tính chất đa diện và về mặt uyên bác»
1.
Đó là xét về điều kiện lịch sử khách quan, còn về mặt nỗ lực chủ quan của các thiên tài, thì như chính Ăngghen đã nói rõ: «Họ hầu hết đều sống và hoạt động trong phong trào của thời họ, trong cuộc đấu tranh thực tiễn, tham gia các chính đảng và đấu tranh, người thì dùng lời nói và cây bút, người thì dùng lưỡi kiếm và nhiều người dùng cả hai cách. Do đó mà họ có một tính cách phong phú và kiên cường, khiến cho họ trở thành những con người toàn diện»
2.
Tất nhiên, cũng có những nhà «bác học bàn giấy», nhưng theo Ăgghen thì đó chỉ là những nhân vật hạng hai, hạng ba hoặc chỉ là những tên philixtanh khôn ngoan, không muốn mình bị bỏng tay!
Trở lại lịch sử dân tộc ta, sau gần 80 năm mất nước, nhu cầu giải phóng dân tộc đã thúc đẩy sự xuất hiện mấy thế hệ người con lỗi lạc, trong đó không ít người xứng đáng gọi là những nhân vật «khổng» lồ của thời đại Hồ Chí Minh: những nhà chính trị xuất sắc, nhà quân sự lỗi lạc, nhà văn hóa, khoa học ưu tú,.. .. Với trí tuệ, tài năng và nhân cách siêu việt, họ tập hợp lại dưới ngọn cờ Hồ Chí Minh, cùng Hồ Chí Minh lôi cuốn, dẫn dắt cả dân tộc làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử, đánh bại hai đế quốc to, đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ bước lên hàng các dân tộc tiên phong trên thế giới.
Tuy nhiên, thời đại đẻ ra nhu cầu và khả năng, nhưng có tận dụng được khả năng, vươn lên đáp ứng nhu cầu thời đại hay không còn phụ thuộc một cách quyết định vào phẩm chất riêng của mỗi cá nhân: trí tuệ, tài năng, ý chí, nghị lực, quá trình lăn lộn trong thực tiễn, vượt qua mọi thử thách khó khăn để thực hiện bằng được lý tưởng, khát vọng mình theo đuổi (về chính trị hay khoa học).
ở nước ta, nhu cầu giải phóng dân tộc, canh tân đất nước đầu thế kỷ XX, đã thúc đẩy hàng trăm thanh niên ưu tú rời Tổ quốc ra đi «tìm đường cứu nước» theo các xu hướng và con đường khác nhau, kẻ Đông du, người sang phương Tây. Trong cùng điều kiện lịch sử đó, khả năng «Nam Đàn sinh thánh» không phải chỉ có một người mà có thể có nhiều. Đã từng có lúc người ta cho vị «thánh» đó là Phan Bội Châu, nhưng chính cụ Phan lại nói: «Nếu Nam Đàn có thánh thật thì chính là ông Nguyễn ái Quốc chứ không phải là ai khác»
3. Điều đó cho thấy chính những phẩm chất cá nhân lỗi lạc của Hồ Chí Minh cùng quá trình hoạt động thực tiễn oanh liệt và phong phú của Người đã đưa Người lên hàng Anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà tư tưởng lỗi lạc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam.
Từ đó, cho phép ta khẳng định lại một lần nữa: nhân tài -- đó là kết quả của mối tương tác giữa phẩm chất cá nhân với nhu cầu của đất nước và thực tiễn phát triển của thời đại. Sự học tập trong nhà trường phổ thông hay đại học mới chỉ là sự trang bị bước đầu về tri thức và phương pháp để có thể dấn bước trên hành trình vạn dặm của lao động và sáng tạo.
B. Tán thành ý kiến của Giáo sư Bùi rằng vấn đề «đào tạo nhân tài» không thể đóng khung trong một trường nào, một cấp học nào, mà là của toàn xã hội; cho nên nếu có một trường đại học nào đó thảo ra đề án rằng «sau 6 năm có thể đào tạo 700 người tài», tôi vẫn cứ nghĩ rằng đó chỉ là một câu nói đùa hay một kiểu nói «trạng» cho vui mà thôi.
Song, nếu xem xét vấn đề từ bình diện một quốc gia, một dân tộc, một chế độ xã hội,.. .. đặt vấn đề «đào tạo nhân tài» như một chiến lược, một quốc sách thì không có gì phải bàn cãi, hơn nữa còn là cấp thiết, nếu như không đặt ra thì mới thực là điều đáng lo ngại.
Người xưa nói: «Bách niên chi kế, mạc như thụ nhân» (Quản Trọng). Bác Hồ cũng nói: «Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người». Do đó, Người đã nhắc nhở: «phải trọng nhân tài», vì «nhân tài nước ta chưa nhiều lắm», nên phải «khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng để nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều». Chỉ trong vòng một năm, Người đã hai lần cho đăng báo «tìm người tài đức», yêu cầu «các địa phương phải lập tức điều tra, nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước, lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết»
* * *
Nghị quyết Đại hội VII, Đại hội VIII của Đảng đã nêu ra ba mục tiêu: «nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài». Đại hội IX có nói tới chính sách hỗ trợ đặc biệt cho những học sinh có năng khiếu, đến chính sách tuyển chọn người giỏi. Tuy nhiên, các câu chữ này đều bị mờ đi bên cạnh nhiều vấn đề lớn khác, nên đến nay, trong thực tế, Đảng ta chưa có nghị quyết riêng về chiến lược nhân tài, chưa tạo ra được không khí toàn xã hội quan tâm đến phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, sử dụng, tôn vinh người tài. Sau cuộc trao đổi của báo Sức khỏe & Đời sống về vấn đề tài năng, cuộc Hội thảo lần này về nhân tài có thể xem là một bước đi có tính đột phá.
Nói nhân tài là sự chung đúc của phẩm chất cá nhân, nhu cầu dân tộc và thành tựu phát triển của thời đại không có nghĩa là đánh giá thấp vai trò hỗ trợ, thúc đẩy của cơ chế, chính sách đối với sự phát triển nhân tài, vai trò của những người làm công tác quản lý, lãnh đạo ở tầm vĩ mô trong hoạch định và thực thi chiến lược nhân tài của đất nước. Nếu chúng ta nhất trí rằng thế kỷ XXI là thế kỷ bùng nổ của tri thức khoa học -- kỹ thuật, là thế kỷ đấu trí, đua tài, cạnh tranh quyết liệt về trí tuệ, quốc gia nào tạo ra được một đội ngũ trí thức, nhân tài dồi dào, đồng bộ bao gồm các nhà lãnh đạo, quản lý giỏi ở tầm vĩ mô; các nhà khoa học và công nghệ có trình độ cao; các chuyên gia kinh tế sắc sảo bên cạnh các nhà doanh nghiệp năng động, nhạy cảm trong sản xuất kinh doanh, v.v.. .. thì quốc gia đó sẽ chiến thắng, và ngược lại sẽ không tránh khỏi rơi vào nguy cơ sụp đổ thảm hại.
Tại một buổi họp của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An có phát biểu: «Đảng và nhân dân ta đòi hỏi ở mỗi đồng chí Bộ trưởng vừa phải là vị tư lệnh giỏi điều binh khiển tướng, vừa phải là một nhân tài xuất sắc của đất nước trong lĩnh vực của mình». Vấn đề là cần làm thế nào để đất nước có được ngày càng nhiều các vị Bộ trưởng như thế?
Chúng ta đã đề ra được phương hướng đúng: nâng cao dân trí nhằm tạo ra một dân cư được giáo dục tốt, từ đó sẽ hình thành được một đội ngũ nhân lực có trí tuệ, làm chủ được nền sản xuất công nghiệp hiện đại ở trình độ cao, trên cơ sở đó sẽ tạo ra một quỹ nhân tài dồi dào cho đất nước. Vấn đề là làm thế nào để biến phương hướng đó thành chiến lược cụ thể, với những bước đi thích hợp, với hệ thống cơ chế, chính sách cởi mở, thông thoáng, tạo điều kiện cho nhân tài nước ta xuất hiện.
Thời đại hoà bình, hợp tác cùng phát triển, thời đại xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức, thời đại toàn cầu hóa,.. .. đang mở ra thời cơ lớn cho nhân tài nước ta hình thành và phát triển. Chưa bao giờ trí thức Việt Nam, nhất là lớp trẻ, lại đứng trước một vận hội lớn lao như thế, một cơ may thuận lợi đến thế. Với tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc sẵn có, với trí thông minh, hiếu học không thua kém ai, với ý chí vươn lên thanh toán nghèo nàn, lạc hậu, chấn hưng đất nước, thế hệ trẻ tài trí hôm nay có đầy đủ khả năng đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới «dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh» như mục tiêu của Đảng đã đề ra. Vấn đề cần khởi động hiện nay là thuộc về công tác tổ chức, quản lý, về những người có trọng trách điều hành, vận hành bộ máy ở tầm quốc gia có liên quan đến chiến lược đào tạo nhân tài. Chúng ta cần một bộ phận tham mưu giỏi để giúp Đảng và Nhà nước khẩn trương dự thảo ngay một đề án toàn diện, khả thi về vấn đề này.
Nhìn sang nước bạn láng giềng Trung Quốc để tham khảo kinh nghiệm của họ sau hàng chục năm thực thi chiến lược nhân tài, ta có thể rút ra được những điều bổ ích, phù hợp với điều kiện của ta.
Sau 10 năm động loạn cách mạng văn hóa, Trung Quốc quyết tâm sửa chữa những sai lầm tả khuynh, trong đó có chính sách đối với trí thức. Trước đây, trí thức cũ thường bị quy «là một bộ phận của giai cấp tư sản», phải đưa về nông thôn để cho bần cố nông giáo dục, cải tạo. Sau khi thanh toán «lũ 4 tên», quan điểm này đã bị đánh đổ, đồng chí Đặng Tiểu Bình đã khẳng định lại: trí thức là người lao động, trí thức Trung Quốc là một bộ phận của giai cấp công nhân, và đề ra 8 chữ «Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài», coi nhân tài là nhân tố năng động nhất của lực lượng sản xuất, coi nhân tài là then chốt trong sự hưng suy, thành bại của một quốc gia, một dân tộc, một chính đảng.
Đây là một sự thay đổi rất cơ bản trong quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với trí thức, nhân tài, mở ra một thời kỳ mới cho sự nảy nở và phát huy nhân tài ở Trung Quốc.
Cuối năm 2003, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc mở Hội nghị công tác nhân tài toàn quốc, ra «Quyết định về việc tăng cường hơn nữa công tác nhân tài». Từ phân tích tình hình mới, nhiệm vụ mới, thách thức mới, bản quyết định khẳng định kiên trì các nguyên tắc: Đảng thống nhất quản lý nhân tài; kiên trì lấy con người làm gốc; kiên trì phương châm tôn trọng lao động, tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, tôn trọng sáng tạo; nắm chắc ba khâu đào tạo, thu hút, sử dụng nhân tài; đi sâu cải cách thể chế công tác nhân tài, ra sức đào tạo các loại nhân tài (các thế hệ nhân tài); khai thác hai nguồn nhân tài trong nước và ngoài nước, v.v.. .. tất cả nhằm xây dựng Trung Quốc thành một nước mạnh về nguồn nhân tài, xây dựng Đảng Cộng sản Trung Quốc thành một đảng cầm quyền tập hợp được nhiều nhân tài ưu tú.
Sau Hội nghị nhân tài toàn quốc, các địa phương, các ngành của Trung Quốc cũng triển khai điều tra, khảo sát, xây dựng quy hoạch, bồi dưỡng, thu hút nhân tài, gắn với mục tiêu kinh tế -- xã hội của ngành mình, địa phương mình. Nhiều cơ chế, chính sách, biện pháp đã được đề ra để thực hiện quy hoạch này. Ví dụ: các thành phố Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu mỗi năm đã cử hàng nghìn cán bộ trẻ, từ cấp vụ trở lên, đi học các lớp ngắn hạn, trung hạn nhằm bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ, kinh nghiệm quản lý, khoa học -- kỹ thuật,.. .. ở Mỹ, Canađa, các nước Tây Âu và nhiều nước phát triển khác.
Để thu hút trí thức, nhân tài, học giả người Trung Quốc ở nước ngoài về nước lập nghiệp, Trung Quốc đã đầu tư xây dựng các thành phố khoa học, công viên khoa học với trang thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học và sinh hoạt ngang mức hiện đại của nước sở tại mà họ đang sống. Cơ chế đi, về cũng rất thông thoáng: có thể về một mình hoặc về cả gia đình, có thể về hẳn hoặc về 1, 2, 3 năm rồi lại ra đi nếu có điều gì không thỏa mãn, đều sẵn sàng tạo điều kiện để ra đi,.. ..
Ngoài ra, những năm qua, Trung Quốc cũng đã xây dựng hơn 60 khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, tạo điều kiện cho các lưu học sinh, doanh nhân Hoa kiều về nước làm ăn và họ đã lập nên gần 4.000 doanh nghiệp, với tổng giá trị sản xuất, kinh doanh hàng năm lên tới hơn 10 tỷ NDT, có đóng góp tích cực vào việc phát triển đất nước.
Với chính sách cởi mở này, những năm qua, Trung Quốc đã thành công trong việc khơi nguồn cho chất xám từ nước ngoài chảy mạnh về trong nước.
Nước Việt Nam ta có hơn 80 triệu dân, tiềm tàng trong đó không ít nhân tài. Có thể như Bác Hồ đã nói: «E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc hiền tài chưa thể xuất thân». Với truyền thống coi trọng hiền tài của dân tộc, chúng ta hy vọng rằng Đảng ta sớm có một Nghị quyết về vấn đề nhân tài, nhằm tạo ra nguồn động lực mạnh mẽ, thúc đẩy thực hiện mục tiêu đưa đất nước thành một nước công nghiệp hiện đại vào cuối những năm 20 của thế kỷ này.
theo Báo Văn nghệ
|