Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam -- Nghị trình--21
Mai Thanh Truyết
Mười năm sau Hội nghị Thượng đỉnh về Toàn cầu hóa tại Rio de Janeiro, Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển Bền vững (World Summit on Sustainable Development) đã diễn ra từ 30/8 đến 4/ 9/ 2002 tại Johannesburg, Nam Phi. Mục đích chính của hội nghị là thẩm định lại các tiến bộ của những chương trình đã được đề ra trước đây, và các vấn đề còn tồn tại do Hội nghị Toàn cầu hóa đề ra mười năm trước đây. Hội nghị kỳ nầy do Hội đồng Quốc tế các Hiệp hội Hóa chất bảo trợ (International Council of Chemical Associations). Đây là một tổ chức phi chính phủ (NGO), cho nên Hội đồng quốc tế có đủ tư cách khách quan trong việc thẩm định kết quả của các quyết nghị trước kia.
Liên Hiệp Quốc là cơ quan bảo trợ cho Hội nghị thượng đỉnh năm 1992. Ngoài những nghị quyết về môi trường, Hội nghị trên đã đề ra một phương hướng mới; đó là khái niệm về phát triển kinh tế bền vững. Từ đó, Nghị trình--21 (Agenda--21) của Liên hiệp Quốc, được xem như là kim chỉ nam của kế hoạch phát triển toàn cầu cho thế kỷ 21, có ghi nhận như sau:» Mọi thành viên trên thế giới đều có đủ tư cách pháp nhân để thụ hưởng một đời sống có ích và lành mạnh.» Đây là một mục tiêu rất tích cực, theo đó LHQ đã đề ra 27 nguyên tắc chung và hy vọng đạt được mục tiêu đã ghi trong Nghị trình 21 cho toàn thế giới.
Theo định nghĩa của Nghị trình--21, sự bền vững là quyền phát triển của mỗi quốc gia cùng tuân thủ theo những tiêu chuẩn giống nhau đã được đồng thuận trước đây, trong đó nhu cầu của hiện tại và tương lai phải phù hợp với những yêu cầu cho phát triển và môi trường. Do đó, dựa trên lý thuyết và từ khái niệm bền vững trên, sẽ không có quốc gia nào có thể tự cho là ngoại lệ và không bị ràng buộc vào những điều luật về bảo vệ môi trường đã được phê chuẩn trước đây. Thêm nữa, các quốc gia cần phải cộng tác khắng khích hơn để đẩy lui sự nghèo đói và phụ giúp các nước nghèo có điều kiện để hoàn tất tiến trình phát triển bền vững chung cho toàn thế giới.
Tuy nhiên, sau mười năm thực hiện, nhiều mặt tiêu cực vẫn còn tồn tại như:
· Các quy định ở Thượng đỉnh Kyoto (1997) về kiểm soát và giảm thiểu mức hâm nóng toàn cầu vẫn không được sự đồng thuận của các quốc gia trên thế giới.
· Các ký kết cũng không được các quốc gia kỹ nghệ áp dụng triệt để.
· Hình ảnh một thế giới phát triển «không bền vững», hoàn toàn đi ngược với tinh thần của Thượng đỉnh Rio de Janeiro năm 1992 lại được tô đậm hơn. Đó la: 1) --Khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia càng lớn dần so với các nước Bắc bán cầu và Nam bán cầu; 2)-- Đối với các quốc gia đang phát triển, giai cấp giàu chiếm thiểu số, giai cấp nghèo chiếm tuyệt đại đa số và giai cấp trung lưu (thể hiện cho sức mạnh của một quốc gia) chiếm tỷ lệ rất khiêm nhường; 3)-- Trên thế giới vẫn còn có 2,4 tỷ người không có điều kiện tiếp cận và xử dụng nguồn nước sạch, hệ thống vệ sinh thường thức hàng ngày, có mức dinh dưởng tối thiểu, có nơi cư trú an toàn, và được chăm sóc sức khỏe; 4)-- Tệ hại nhất, môi sinh tòan cầu đang phải gánh chịu hậu quả do sự phát triển «không bền vững» gây ra.
Mục tiêu cao thượng của phát triển bền vững dựa vào ba yếu tố căn bản: phát triển xã hội, phát triển môi trường, và phát triển kinh tế. Do đó muốn đạt được mục tiêu, mỗi quốc gia cần phải thỏa mãn ba yêu cầu trên.
Trước hết về mặt phát triển xã hội, các tiêu chuẩn chung áp dụng cho các quốc gia trên thế giới quả khó thực hiện. Mỗi quốc gia có những điều kiện đặc thù về văn hóa và cấu trúc xã hội riêng. Cho nên định nghĩa chung cho phát triển xã hội vẫn còn là một khái niệm mơ hồ và thường phải đặt căn bản trên phát triển kinh tế của từng quốc gia.
Về mặt phát triển môi trường, mặc dù có thể có được những điểm đồng thuận trong việc thiết lập các bộ luật môi trường của cho mỗi quốc gia, tuy nhiên việc áp dụng vẫn còn tùy thuộc nhiều vào dân trí, điều kiện xã hội và kinh tế của từng quốc gia. Từ đó việc áp dụng các luật lệ càng khó có thể đi đến đồng nhất được.
Tóm lại, chỉ còn mặt phát triển kinh tế là có thể đo lường một cách «biểu kiến» việc phát triển bền vững. Mặt nầy còn có thể cụ thể hóa và định lượng được mức độ phát triển qua việc sản xuất, bảo vệ môi trường, và đem lại phúc lợi cho người dân. Một thí dụ đơn giản sau đây cho chúng ta hình dung được một sự phát triển bền vững ứng hợp cho mỗi quốc gia: Một nhà máy sản xuất nước uống cho thành phố, nếu bảo quản môi trường nghiêm chỉnh qua quy trình thanh lọc sạch, và làm giảm chi phí sản xuất tối đa là một hình ảnh phát triển bền vững vì đã thỏa mãn được ba mục tiêu căn bản do Hội nghị đề ra. Trước hết, nó thỏa mãn được việc bảo vệ môi trường, mang thêm phúc lợi vào việc phát triển xã hội (như tăng công ăn việc làm cho người dân, có thêm thuế để xây dựng hạ tầng cơ sở cho xã hội..), và sau cùng thỏa mãn được điều kiện phát triển kinh tế.
Phát triển bền vững -- Nghị trình--21 của Việt Nam
Kễ từ khi Hôị nghị thượng đỉnh về Tòan cằu hóa của LHQ tại Rio de Janeiro, Việt Nam là một trong 70 quốc gia đã ký kết vào Chương trình Hành động của Nghị trình--21 về phát triển bền vững. Trong đó Việt Nam đã cam kết long trọng rằng sẽ bảo đãm môi trường và hệ sinh thái cũng như tôn trọng sự phát triển bền vững. Việt Nam cũng còn hứa thêm là sẽ phối hợp và học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác. Tiếp theo sau đó, Việt Nam cũng đã ký kết quy ước về đa dạng sinh học và sự hâm nóng tòan cằu.
Việt Nam bắt đầu Chương trình Quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững 1991 -- 2000 (National Plan on Environment and Sustainable Development 1991--2000).
Tháng 4/1997 trong một dự thảo báo cáo Chương trình Hành động của Nghị trình--21 do Bộ KH, CN & Môi trường, Việt Nam đã đưa ra 40 đề mục để trình lên Nghị trình--21 của LHQ. Các đề mục chính được liệt kê sau đây:
· Hợp tác quốc tế để đẩy mạnh tiến trình bền vững ở các quốc gia đang phát triển;
· Chiến tranh chống nghèo đói;
· Bảo vệ và đẩy mạnh y tế công cộng;
· Chiến tranh chống nạn phá rừng;
· Quản lý hệ sinh thái: chiến tranh chống hạn hán và sa mạc hóa đất đai;
· Đẩy mạnh phát triển bền vững trong nông nghiệp và nông thôn;
· Bảo tồn đa dạng sinh học;
· Bảo vệ biển và các nguồn sinh vật sống gần bờ biển;
· Bảo vệ phẩm chất và nguồn dự trử của nguồn nước ngọt;
· Quản lý phế thải độc hại;
· Đẩy mạnh giáo dục môi trường và huấn nghệ.
Nhìn chung, tất cả chương trình căn bản của LHQ trong phát triển bền vững đều nằm trong báo cáo nầy. Tuy nhiên, khi đi vào chi tiết, gần 90% nội dung của các tiết mục trên hòan tòan để trống. Điều nầy có thể ghi nhận là, Việt Nam có làm báo cáo theo yêu cầu, nhưng trên thực tế thì không hay chưa thể thực hiệc được các nhu cầu đề ra ngoài các nhận xét chung chung về hiện trạng môi trường ở Việt Nam.
Việt Nam cũng đã công bố một thí dụ điển hình về Chương trình hành động cho phát triển bền vững của thành phố Vinh, gồm 200.000 dân (1996), với diện tích 62 Km2, ngân sách năm 1996 là triệu Mỹ kim (hay đầu người/năm). Và Chương trình hành động cho đến năm 2010 của thành phố nầy là:
· Thẩm định, thảo luận, và cập nhật hóa kế hoạch tổng thể (master plan);
· Viển kiến dài hạn cho các công trình, khu gia cư chung quanh Đại lộ Lenin;
· Khuyến khích đầu tư;
· Cải thiện việc quản lý chất thải rắn, bãi rác và xử lý rác v.v.. ..;
· Làm sống lại khu chung cư công cộng Quang Trung;
· Huấn luyện chuyên viên chỉnh trang thành phố, chuyên viên quản lý, và chuyên viên kỹ thuật.
Về hợp tác quốc tế, Vinh đã phối hợp với công ty Belgian Administration for Development Cooperation để có tài trợ tài chính và kỹ thuật theo tinh thần của Nghị trình--21 của LHQ.
Tóm lại, trong một chừng mực nào đó, Việt Nam đã có cố gắng hấp thụ tinh thần Nghị trình--21 cho việc phát triển quốc gia. Tuy nhiên điều kiện tài chính, kỹ thuật và trình độ nhân sự không cho phép Việt Nam đi xa hơn tình trạng hiện tại. Một yếu tố thiết nghĩ rất quan trọng, là dường như nhân sinh quan của lãnh đạo Việt Nam về vấn đề phát triển bền vững cũng như những vấn nạn môi trường khôngđược đặt ưu tiên trong việc quản lý quốc gia, nếu không nói là lơ là.
Trong dự thảo phát triển bền vững Việt Nam nêu ra trong kỳ thượng đỉnh ở Johannesburg mới vừa xảy ra vào tháng 9/2002 đã chứng minh nhận xét vừa kễ trên. Quan điểm «không nên để thúc ép về môi trường mà đánh mất lợi thế phát triển trong định hướng chiến lược để tiến tới phát triển bền vững» của TS Trần du Lịch đã thể hiện tinh thần không coi trọng các hệ lụy của phát triển như vấn nạn môi trường trong khi phát triển. Thêm nữa, trong số 8 nguyên tắc chính của phát triển bền vững của Việt Nam mà dự thảo nêu ra, dĩ nhiên vai trò khoa học và kỹ thuật đóng vai trò đầu tàu kéo tòan bộ sự phát triển mà không hề nhắc đến yếu tố căn bản là nguồn nhân lực để bảo đãm sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Từ đó, đáng lý vai trò giáo dục phải đứng hàng đầu mà cũng không được dự thảo nhắc đến.
Các mục tiêu kết hợp cho phát triển bền vững trong Nghị trình--21 của Việt Nam cũng không nêu ra các liên hệ căn bản giữa kinh tế, xã hội, và môi trường, ba mối liên hệ tương tác do LHQ đề xướng.
Trong xã hội Việt Nam hiện tại, những «tinh hoa» hay «chuyên viên» cần phải có thêm tiêu chuẩn «hồng» mới được đón nhận vào ngạch hành chính để điều hành các nghiệp vụ phát triển. Do đó, lượng nhân sự kỹ thuật tham gia vào công cuộc phát triển vốn đã ít ỏi lại càng vơi dần thêm trước nhu cầu gia tăng nhân sự. Có lẽ vì mang nặng nhiều mặc cảm có khả năng làm trì trệ việc phát triển đất nước, cho nên Việt Nam đã để lỡ nhiều cơ hội tiếp nhận đầu tư ngoại quốc, thay vì có khuynh hướng tăng dần kễ từ khi áp dụng chính sách «đổi mới» từ năm 1986; trái lại, mức đầu tư đã bị khựng lại từ năm 1993 trở đi cho đến ngày nay.
Để kết luận, chúng ta có thể nói mà không sợ nhầm lẫn rằng, Việt Nam chưa sẳn sàng cũng như chưa chuẩn bị đúng mức để hội nhập vào công cuộc phát triển bền vững tòan cầu theo tinh thần của Nghị trình--21 do Liên hiệp đề ra từ năm 1992. Ngày nào lãnh đạo Việt Nam chưa chịu thay đổi nảo trạng hiện tại thì Việt Nam sẽ khó có thể trở thành con rồng vùng Đông Nam Á trong vài thập niên sắp tới đây.
Mai Thanh Truyết
|