Việt Kiều Paris /Anh Hùng














Anh Hùng



Nguyễn Ngọc Giao





Chiều qua có hẹn với người bạn trong nước ghé qua Pháp, gần quảng trường Italie (quận 13 Paris), qua hiệu thực phẩm, một dòng chữ lạ : confiture de lait (mứt sữa) đập vào mắt tôi. Tò mò, vợ chồng tôi vào hỏi chủ tiệm, được ông ta giải thích đó vốn là đặc sản của Pháp, du cư sang tận Argentina, nhưng vẫn còn lưu truyền ở một số vùng nông thôn nước Pháp. Bốn mươi năm sống ở Pháp, chúng tôi chưa hề biết món này. Mua thử nhé ? vợ tôi hỏi. Ừ, mua chứ, tôi trả lời ngay. Tôi nghĩ : hỏi anh Hùng có biết món này chưa. Chưa kịp nói ra lời thì tôi chợt tỉnh : anh Hùng đã mất rồi. Hai ngày qua, từ trưa thứ hai, khi chị Vân gọi điện thoại báo tin anh Hùng vừa mất, bệnh viện vừa báo tin, anh chị em chúng tôi tất bật cùng gia đình lo việc ma chay, khi tỉnh khi mê, có lúc nào quên được là anh đã mất rồi.


Ấy vậy mà chiều nay, trên hè đường Vincent Auriol này, tôi chợt hiểu mình vẫn chưa chấp nhận sự mất mát ấy, chợt thấy không biết tự bao giờ, anh Hùng chị Vân hiện diện trong đời sống, trong ý nghĩ hàng ngày.


***


Anh hơn tôi 8 tuổi, ngang tuổi anh ruột tôi. Anh Hùng chị Vân cùng sinh một năm, cùng học y khoa, cùng tốt nghiệp bác sĩ ở Sài Gòn (cách đây vài tuần, gặp một cặp bác sĩ khác, đồng khoá với anh chị, suốt buổi lại được nghe kể về người sinh viên y khoa xuất sắc nhất của trường Y thời ấy _ Tôi thương thằng Hùng lắm anh ơi, anh T. nói đi nói lại nhiều lần). Khoảng năm 1965 anh chị mới sang Pháp và hoạt động ngay trong phong trào Phật tử. Còn tôi sang đây ngay sau khi đỗ tú tài trước đó 8 năm, rồi tham gia phong trào Liên hiệp Việt kiều. Chúng tôi gặp nhau lần đầu từ cuối thập niên 60, nhưng phải sau năm 1975 tôi mới có dịp tiếp cận qua các sinh hoạt của Hội người Việt Nam tại Pháp. Tuy nhiên, trong khoảng 10 năm, mỗi người một việc, anh hoạt động chủ yếu trong Hội y học, tôi làm báo Đoàn Kết và công tác ngoại vụ, nên chúng tôi cũng chỉ gặp nhau trong những sinh hoạt chung như họp ban chấp hành, đại hội, tết nhất, mít tinh, những cuộc gặp gỡ chiêu đãi. Quan hệ giữa chúng tôi là thân thiện nhưng hời hợt. Không hời hợt chăng là ấn tượng mà tôi còn giữ về một ông chủ tịch hội y học khá « chịu chơi «, những ngày hội ngày tết bao giờ cũng xắn tay áo làm « cu li cu leo «, khuân vác bàn ghế, làm « đề co « phông màn cho sân khấu. Cũng cần mở ngoặc : những ai có chút ít kinh nghiệm hoạt động hội đoàn và từng làm « cu li cu leo «, thì thường có cái thước đo riêng để đánh giá con người. Cái thước đo ấy không công bằng khi nó áp dụng cho những ai không tham gia việc « khuân vác «, dễ vơ đũa cả nắm. Nhưng lại rất chính xác khi nó được dùng để nhận diện những « vị « nào muốn « đóng kịch « ta đây cũng chẳng nề hà làm việc tay chân, nhất là những vị dùng tay chân một cách tượng trưng, chủ yếu dùng tay để « vỗ về « anh em, theo đúng « tác phong quần chúng «. Cho nên, với cái thước đo vừa chủ quan vừa chính xác ấy, thời đó tôi để ý anh Hùng, và « xếp loại « anh vào hạng chịu chơi, và chơi được. Nhưng chưa chơi, chỉ vì chưa có dịp.


Tôi dùng chữ chơi, ăn chơi khi nghĩ về mối thâm giao giữa chúng tôi, cũng hợp. Vì từ năm 1985 trở đi, liên tục đến bây giờ, tôi có dịp gần gũi anh, năm năm ở Nhà Việt Nam, trong đó có ba bốn năm trong ban biên tập Đoàn Kết, và mười năm qua trong êkip Diễn Đàn, chúng tôi làm đủ mọi thứ chuyện, từ chổi cùn rế rách cho đến những chuyện mà thiên hạ cứ gán cho cái tên đáng sợ là « đại sự «, nên không thiếu dịp hiểu nhau, và thành thân nhau, nhưng nhìn lại, tôi thấy đã hiểu được con người anh Hùng, là qua chuyện ăn chơi.


Đồng nghiệp và môn đệ của anh sẽ giúp ta hiểu sự nghiệp khoa học của anh. Giới y học Việt Nam và Pháp sẽ đánh giá những đóng góp của anh cho nền y tế Việt Nam và sự hợp tác Pháp--Việt trong lãnh vực này. Các bạn của anh trong phong trào Phật tử sẽ cho ta hiểu kích thước của Bùi Mộng Hùng trong thời kỳ đấu tranh cho độc lập và thống nhất đất nước. Sư phụ, đồng môn và môn đệ sẽ kể cho ta nghe về võ nghệ của anh. Bạn đọc của anh có đủ yếu tố để đánh giá đúng sự đa dạng, tầm sâu của các bài viết, và bao trùm lên sự đa tài và sâu sắc là tấm lòng chân chất của con người ấy. Nghe đôi câu của cháu Vinh, 9 tuổi, cháu ngoại đầu tiên của anh, vào buổi tối thứ hai 24 nói đến « cha cha « _ nó không gọi bà ngoại là mêmê như các bạn Pháp mà gọi « mẹ mẹ «, nên nhờ đó anh được phong làm « cha cha « mặc dầu anh chỉ là « cha của mẹ « _ tôi phần nào hình dung ra vai trò của người yêu, người chồng, người cha, và ông ngoại trong cái gia đình rất đỗi thương mến ấy.


Cho nên, tôi xin nói chuyện ăn chơi. Nói ăn chơi thì vô tận, nên chỉ thu lại một chuyện : hiểu vài nét về con người của anh qua chuyện ăn chơi. Bùi Mộng Hùng mê ăn chơi, đó là nét thứ nhất. Nghe anh kể chuyện thuở trẻ mê đá gà, say sưa sảng khoái, thật vui, nhưng nhiều khi cũng bực. Rồi đủ thú chơi của nông dân Nam Bộ, từ miền Tây, qua Cà Mau, đến Tây Ninh, có lẽ anh rành hơn cả Sơn Nam, ít nhất ở một điểm : Sơn Nam quan sát, hiểu biết rành rọt đấy, nhưng ánh mắt của Bùi Mộng Hùng cho thấy anh là người trong cuộc, say mê trong cuộc tới mức tôi ngờ đêm ngủ anh còn mớ chuyện đá gà thuở trẻ.


Thật là lạ. Càng lạ hơn khi biết rằng con người nói tiếng Nam Bộ, khuôn mặt quắc thước Nam Bộ, dáng vóc của một lão nông của vùng đất khai hoang phương Nam kia lại là Bắc Kỳ chính hiệu, sinh đẻ ở ngoài Bắc, trong một gia đình nho phong _ anh có một người anh họ, là hoạ sĩ Bùi Xuân Phái.


Đất Tây, hay tuổi đời, không còn những trò chơi cổ truyền như kiểu chọi gà kia nữa, thì anh chơi văn hoá, nghệ thuật. Những ngày ở Nhà Việt Nam (1985--90) mãi mãi với tôi sẽ là những ngày vui : chúng tôi « bày trò « văn hoá cho bà con chơi, hay nói cho đúng : để chơi với bà con. Ngoài những buổi anh chiếm phòng « đa khoa « của Nhà Việt Nam để luyện võ Nhật cho môn đệ, là nơi và lúc tôi lánh xa, anh em chúng tôi cùng nhau làm đủ mọi chuyện, nhờ đó tôi khám phá ra con người đam mê và am tường văn hoá nơi anh Hùng. Những lúc trà dư tửu hậu, tôi thường khoe mình đã có công bắt được anh Hùng viết những bài báo đầu tiên, và kéo anh vào ban biên tập Đoàn Kết (từ đó, dưới các bút hiệu Nguyên Thắng, Thầy đồ Mộ Trạch, Hai Gà Đá, Bác sĩ Aspirin.. .. rồi tên cúng cơm, anh đã viết những bài nghiên cứu, phổ thông, bút ký, kể cả một truyện ngắn, rất hay). Khoe như vậy cốt để trêu mấy anh em Phật tử, nhất là Nguyễn Trọng Nghĩa, mỗi lần chuếnh choáng lại trách anh Hùng viết hay viết khoẻ như vậy mà sao hồi báo Gió Nội [của Đoàn sinh viên Phật tử Việt Nam tại Pháp], thúc anh hoài anh không chịu viết. Thật ra, anh không nói, chúng tôi cũng hiểu, phải sau bao nhiêu năm đọc, học, hiểu.. .. anh mới chịu hạ bút. Cái « công « lớn của tôi, chẳng qua là đã ngồi chơi dưới chân núi đúng lúc tráng sĩ hạ sơn.


Nói « khám phá « ra nhà văn hoá đa năng cũng không chỉnh, vì tôi « khám « hoài mà « phá « vẫn chưa ra hết. Tính tôi mới tiếp cận được cái gì hay hay, cho dù thiên hạ biết tỏng từ lâu, là muốn giới thiệu bằng được cho bạn bè tìm đọc, đi xem.. .. Mười lần thì chí ít cũng phải tám chín, qua một nhận xét tinh tế _ tuy phát biểu theo kiểu Bùi Mộng Hùng, nghĩa là cục mịch, cộc lốc, nhấm nhẳng _ tôi vỡ lẽ anh đã đọc rồi, xem rồi, đọc kỹ, xem kỹ là tất nhiên. Ngay tháng trước này, với tư cách « chuyên gia điện ảnh châu á «, tôi thao thao kêu gọi bà con trong ban biên tập đi coi phim Hương Hồn nữ của Tạ Phi, hoá ra anh cũng đã đi coi rồi, và một nhận xét nhỏ của anh về cuốn phim cũng đủ làm tôi muốn đi xem lại để nhìn ra những gì mình chưa thấy. Chiều thứ hai 24, ở bệnh viện ra về, chị Vân kể hôm trước anh còn đùa : anh có ý rủ tôi, hai anh em bỏ vợ bỏ con xuống Cannes dự Festival cuối cùng của thế kỷ. Cuốn phim Nam Hàn, bức tượng gỗ ở một nhà thờ hẻo lánh, một vũ điệu ba--lê Nhật Bản hiện đại, món ăn thường ngày của người dân Indonesia.. .. anh đều đã nếm.


Anh Hùng ăn khoẻ nổi tiếng. Những tối thứ bảy lên khuôn tờ báo, giờ ăn là giờ chúng tôi tán dóc khoe khoang. Nghe mọi người khoe chán, anh cũng khoe tài ăn khoẻ mà chúng tôi đã mục kích bao năm rồi. Anh khoe lấy được chị Vân cũng nhờ tài ăn khoẻ : trong buổi « đụng đầu « với « ông già vợ «, ông ăn được sáu bát, chắc mẩm áp đảo được thí sinh của cuộc thi tuyển chàng rể, nào ngờ nó ăn cho một lúc tám bát. Giai thoại này có thể anh phịa ra cho vui, và giấu kỹ những con « chủ bài « khác mà anh mang sẵn trong khăn gói thí sinh, nhưng tài ăn 8 bát của anh thì đúng là.. .. thực tài. Ngoài anh ra, tôi chưa được gặp một người ăn khoẻ mà lại vừa sành ăn vừa dễ ăn. Anh là một thực khách lý tưởng cho mọi bữa cơm. Món ngon, anh biết thưởng thức, món dở anh cũng khoan dung. Tôi chỉ cần nêu ra một bằng chứng : anh là người đã tuyển chọn trang viết của ông Nguyễn Văn Trấn về món thịt heo luộc trong Chợ đệm quê tôi để đăng số báo xuân năm nọ.


Cái tính cách của anh trong chuyện ăn uống, tôi nhận ra trong lãnh vực học thuật cũng như trong sự ứng xử của anh đối với mọi người, mọi tuổi. Anh đọc nhiều, đọc sâu. Sách dở anh cũng đọc, bực mình kêu rầm trời dở ẹt, nhưng vẫn tìm ra một thông tin, một ý tưởng đáng chú ý. Báo chí Việt ngữ độ này quá nhiều, quá dở, ai cần đọc, muốn đọc cứ lấy đọc trước, xong rồi tống cho anh đọc, anh lọc, cuối cùng vẫn nhặt ra một con số, một sự việc mà anh đặt trong một khung cảnh chung, phân tích nó trong một bài báo vài tháng sau đó. Anh là người quảng giao, lịch lãm trong việc xét người. Lắm khi anh thấy anh mất quá nhiều thời giờ giao du với một người không đáng chơi, thỉnh thoảng tôi trách anh, khi bỏ nhỏ, khi huỵch toẹt, anh chỉ cười xoà, nhưng ngẫm lại, tôi hiểu anh trân trọng đôi điều đáng quý ở người đó, bỏ qua mặt này mặt kia. Vài lần như vậy, anh Hùng, như tôi vẫn xưng hô từ 30 năm (cũng như anh bao giờ cũng gọi tôi là anh, và xưng tôi, mặc dầu tôi thua anh 8 tuổi), bỗng đã trở thành anh tôi từ lúc nào, mà tôi không hay. Cho đến hôm nay mới thấm.


Tôi coi anh là anh, quên mất người thầy. Người thầy theo nghĩa đen. Tôi học lóm khi anh góp ý kiến về một ý, một chữ trong bài của người khác. Bài của tôi thì ít khi nào anh góp ý, không phải vì anh không có ý để góp, chỉ vì tới ngay lên khuôn, chẳng bao giờ tôi viết xong cả, thậm chí chưa viết xong dòng đầu. Còn bài của anh, tôi thường chỉ được đọc khi báo đã in xong, mặc dầu bao giờ anh cũng nộp đúng ngày lên khuôn và đưa mọi người đọc. Nhưng những ngày lên khuôn như vậy, anh và tôi là công nhân đánh máy, lên khuôn, nghĩa là lại làm kiếp cu--li, việc sửa lỗi chính tả và « duyệt « bài chủ yếu là việc của anh em khác.


Nhân đây, xin phép được mở ngoặc. Tháng bảy năm ngoái, Nguyễn Quang viết về cuốn Sách đen của chủ nghĩa cộng sản, song chỉ tập trung vào phần giá trị nhất của nó (do Nicolas Werth chấp bút) là phần về Liên Xô, còn đẩy tôi viết về Trung Quốc và Việt Nam, và chú thích phần này sẽ đăng trong một số sau. Bạn đọc viết thư nhắc nhở, anh em thúc giục, tôi vẫn trây lười. Gần tết, có một bạn đọc ở Texas giận, không mua báo nữa, anh em ép quá, tôi đành hoãn binh bằng cách đánh cuộc : số sau anh Hùng viết bài về Đạo Phật và tính dục (sexe) thì tôi cũng viết xong bài. Không biết anh có mắc mưu của tôi thật không, chỉ biết anh đã ngoéo tay giao hẹn đàng hoàng. ít lâu sau, anh cười : tôi xin chịu thua, không dám viết đề tài này, thiên hạ chửi chết. Nhờ đó mà tôi lười vẫn hoàn lười, nay mới ân hận là đã viết không kịp để buộc anh phải để lại một bài viết lý thú. Kể lại giai thoại này, tôi cũng xin lỗi bạn đọc, hứa một ngày kia sẽ trả nợ, và mong bạn đọc khoan thứ cho cái lối làm báo chơi ấy.


Nối lại chuyện bàn ké và học lóm. Học trực tiếp là trong những dịp khác, chủ yếu qua điện thoại. Từ ngày anh Tạ Trọng Hiệp mất đi, tôi buộc anh trưởng tràng phải làm thày chữ nho (tôi bầu anh làm trưởng tràng vì có một năm tôi theo anh dự thính lớp Hán Việt của anh Hiệp ở Trường đại học Paris VII). Cứ như thế, không có tuần nào, kể cả thời gian anh ở bệnh viện sau cuộc mổ tim, tôi không phiền anh giảng nghĩa dăm ba chữ, mệt nhất là tìm ra âm hán việt của một từ hán chỉ biết dạng pinyin và biết đại khái ngữ nghĩa. Thứ hai tuần trước, đúng một tuần trước ngày tạ thế, anh còn phải tra cho tôi từ hai âm Yingzheng xem tên cúng cơm của Tần Thuỷ Hoàng phiên âm hán việt là gì. Thoạt đầu anh chỉ nhớ y tên là Chính, phải tra nhiều sách mới ra Doanh Chính để gọi điện thoại dạy tôi. Nghe chị Vân kể lại, anh nói « nhờ ông Giao mà anh học thêm được một chữ «. Dường như suốt đời anh sống là để cho thiên hạ nhờ ; còn anh nhờ ai có lẽ là nhờ kiểu đó.


Lần cuối cùng gặp anh, trưa thứ tư 19, cũng là nhân một bữa ăn. Tôi ghé qua nhà đón anh đi ăn trưa với một chị bạn Hà Nội, một nhà nghiên cứu văn học. Chúng tôi nói đến Balzac, đến việc dịch thuật văn học thế giới sang Việt văn, đến đời sống văn học Việt Nam.. .. Xế trưa, đưa anh về đến đầu nhà, khi quay đầu xe, nhìn trong kính chiếu hậu, thấy anh còn đứng đó, dáng đứng nửa nông dân, nửa võ sư, giơ tay vẫy chào.. .. Tôi thầm nghĩ : sao hôm nay ông này lại bày trò vẫy chào. Và muốn trách anh một câu, như để xua đuổi một linh cảm lén lút trong đầu.. ..


***


Đêm qua, chúng tôi đi xem vở múa mới của Ea Sola Voilà voilà, không có anh. Chị Vân kể tuần trước rủ anh đi coi Le temps retrouvé anh không chịu, bảo ngồi nhà đọc Proust còn hơn, đúng quá, nhưng anh chịu đi xem Le barbier de Sibérie, về nhà rầy la chị là thằng cha Mikhalkov này bây giờ mị dân quá, không chịu được. Sai lầm của anh là chưa đi, nuối tiếc của tôi là đã không rủ anh chị đi coi Tout sur ma mère.. .. Chắc anh sẽ thích lắm, vui lắm, và cảm thông với một Aldomovar biết ngợi ca những điều đáng ngợi ca nơi người phụ nữ. Mà về lãnh vực này, sau gần bốn chục năm sống với người bạn đời, hơn hai mươi năm sống bên ba cô con gái yêu, anh là người sành sỏi.


Rốt cuộc tôi không biết anh đã nếm món mứt sữa chưa. Chỉ biết từ nay anh không đọc sách, không đi rong chơi, không đi coi hát coi phim nữa. Sẽ chẳng bao giờ tôi rủ được anh đi Cannes. Nhưng thôi, như anh thường nói, « không sao «. « Sự thật «, (anh thường mở đầu mỗi câu như thế), bởi vì sự thật, chính cuốn phim cuộc đời anh là một tác phẩm tuyệt đẹp mà anh để lại cho người thân của anh, cho anh chị em bạn bè xa gần, cho đất nước và cho cõi đời này.


Maisons--Alfort, 27.5.1999
Nguyễn Ngọc Giao










THẠC SINH Truyện ngắn của Bùi Mộng Hùng



Nguyễn sinh tên Hiệp, gốc người Hà Đông. Tiếng là dòng họ văn học nhưng thật ra nhà không có lấy tấc đất cắm dùi, đời cha lưu lạc vào sinh sống ở miền nam, vùng đất Tầm Phong Long xưa.


Sinh ăn gạo uống nước đất ấy từ thuở nhỏ,nhiễm phải cái máu yêng hùng, không sao chừa được. Đến tuổi bắt đầu hiểu biết, một hôm nằm lơ mơ đu đưa trên võng, bỗng nhiên mơ hồ cảm thấy rằng ngoài tiếng ve vang vang, ngoài hương bưởi thoang thoảng gió đưa từ vườn vào đến hiên trong, ngoài bầu trời chói chang nắng ấm, ngoài mảnh đất thân yêu thế hệ cha anh lấy máu mình thấm vào để đòi quyền được sống, là thế giới khác, của những người đang là thù địch. Càng lớn lên, sinh lại càng nhận thức thấy cái thời gian thực, thời hiện tại, thuộc về thế giới của những người kia. Giành được quyền làm chủ mảnh đất tổ tiên để lại, thì cái độc quyền làm ra hiện tại, họ vẫn nắm trong tay. Từ ấy, cũng như nhiều thanh niên đồng trang lứa, sinh rắp tâm đi tìm phương kế mang thời hiện tại về cho quê hương.


Cầy cục mãi, sinh được đi du học ở kinh đô nước Pha Lang Xa. Đất Tràng An văn vật, hội đủ mặt người năm châu bốn bể, đủ học thuật trăm nhà.


Sinh xin học phép giúp dân giúp nước, đến đâu người ta cũng cười, bảo rằng chỉ có dạy khoa học và kỹ thuật mà thôi, cứ học đi rồi muốn dùng làm gì thì dùng. Sinh nghe lời, quyết tâm theo học xem ra sao. Cái trò càng học là càng phải chuyên sâu. Sinh chuyên một mảnh vỏ một loại siêu vi trùng. Miệt mài trên mười năm. Thành chuyên gia. Nghĩa là chỉ nói được chuyên đề, mà nói ra thì phải là chuyên gia đồng hội đồng thuyền _ dưới gầm trời có được khoảng vài trăm người _ mới muốn nghe và hiểu với nhau, người ngoại đạo có nghe thường cũng ù ù cạc cạc.


Sinh trong bụng phân vân, có dịp là tìm đến yết kiến các vị triết gia chuyên khoa học luận, hỏi : « Sao lại vụn vặt như thế ? «. Lần nào cũng được nghe trả lời : « Khoa học mênh mông biển cả, chính vì người làm khoa học tập được đức khiêm tốn, biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, mà khoa học mới cao, mới rộng, mới tiến triển. Giữ cái thói vỗ ngực tự xưng là khoa học, nói trời nói biển không có gì kiểm chứng thì học thuật không nền không móng, có hào nhoáng cũng chỉ là cấp thời, lúc va chạm với thực tại tất đổ vỡ ngay «. Sinh lại hỏi đến thuật giúp dân giúp nước thì lần nào cũng bị đẩy ra cửa : « Việc ấy ngoài vòng sở học của chúng ta «.


Gặp khi đất nước vừa được hoàn toàn độc lập thống nhất, sinh vội về, cơm ghe bè bạn ra trọ ở đế đô để xin được đem sở học góp phần xây dựng lại nước nhà. Chờ chực ít lâu, được nghe người quen trong triều bảo ngầm cho biết rằng : « Đàn khoa học gia nuôi làm cảnh cũng là đông đủ lắm rồi, cho anh về thì mất một chỗ dành để ban thưởng cho những kẻ công lao hạng mã. Anh đã có được chút địa vị ở nước ngoài, thôi thì hãy giữ lấy chỗ ấy, cứ một hai năm về nước một lần dăm bữa nửa tháng thuyết trình vài buổi cho vui nhà vui cửa. Cứ ở lại nước ngoài vỗ tay vào tán tụng việc làm trong nước là tốt đẹp cho mọi người hơn cả «.


Sinh trở qua Pha Lang Xa, bàng hoàng. Vốn đang theo học một võ sư người đất Phù Tang từ nhiều năm, sinh lăn vào khổ luyện thân xác. Mỗi buổi tập quì chịu cho bẻ các khớp xương, ban đầu đau toát mồ hôi đầm mình, dần dần tay chân lúc muốn cứng thì cứng như thép nguội, khi mềm thì dẻo như sợi dây mây. Lại tập di động bằng đầu gối, ngày đầu toạc cả da, máu thấm ướt ống quần, lâu dần thành chai, đi bằng đầu gối nhanh nhẹn như đi trên bàn chân. Khi ấy, đứng dậy thì thế đứng vững như bàn thạch mà chuyển động thì nhẹ nhàng như gió lướt trên ngọn cỏ. Một buổi, võ sư ngồi xếp bằng xem sinh luyện tập, nhắm mắt nghe tiếng kiếm reo trên không, vút cao mà nhỏ rứt, thoang thoảng âm điệu vui vẻ mà hoà nhã, liền mở mắt mỉm cười bảo : « Thế là được đấy «. Sinh hỏi : « Quyền, kiếm, khổ luyện hơn mười năm dùng để làm gì ? «. Thầy cười mà đáp : « Từ xa xưa thời Tô--cư--ga--hoa tướng quân đem súng đạn dùng tràn trong trận mạc thì đã rõ rằng chỉ đùng một phát súng nổ là nhà võ sĩ lăn ra chết, công phu khổ luyện trên mười năm tan tành mây khói. Tuy nhiên người Phù Tang vẫn giữ truyền thống võ sĩ đạo, cho rằng ai tâm thành luyện võ thì có cơ biết mình. Đấy là căn bản để học làm người. Còn dùng để làm gì thì đồ đệ trong trường phái ta mỗi người phải tự tìm lấy «.


Bạn bè từ ấy thường nghe sinh ngâm vang mấy câu thơ cổ, giọng như dại như si :


Thập niên ma nhất kiếm,
Phương nhẫn chính quang mang
Sát khí hoành ngưu đẩu
Nghiêm uy động tuyết sương
Nhập Tần ký bất khả
Quy Hán diệc vị hoàng
Hồ hải không phiêu đãng
Tráng chí thành đại cuồng.


Thân thích thấy sinh trước kia vốn cho câu « lập thân tối hạ thị văn chương « của người xưa là phải, vẫn xem văn thơ như cỏ rác, nay bỗng đâm ra mê sách báo. Ôm cả sách mà ngủ, khi thức dậy nhiều khi khoe gặp người đẹp trong sách. Cho là sinh nổi cuồng.


Một chiều đông tuyết đổ lất phất, sinh đi làm về, ngồi trên chuyến xe công cộng đọc tờ báo do người đồng hương sinh sống ở đất Pha Lang Xa làm ra. Bỗng nhiên nghe thỏ thẻ bên tai :


Những nhà cao những phố đầy người Đèn sáng rực không làm ấm được tâm hồn xa xứ sở Phòng chật hẹp giam đời rộng mở Lòng rỗng không bên hàng hoá dư thừa.. ..


Quay lại thì là một thiếu nữ đồng hương, tuổi độ đôi chín hai mươi, mặt nghiêng nghiêng e lệ, mà đôi mắt bồ câu láy láy về phía sinh. Sinh se sẽ đọc mấy câu thơ :


Tuyết đổ dày thêm đêm lạnh buốt
Người về phòng nhỏ, bóng cô đơn
Mở chai bia lạnh thay cơm tối
Ngồi đọc thư nhà lệ chứa chan.


Đôi môi hình múi cam của cô gái nở nụ cười, lòng sinh xao xuyến. Sinh xích lại làm quen, khi gần đến nhà, ngỏ lời mời cô gái dùng chén trà nóng cho ấm người.. ..


Từ ấy cô gái đúng hẹn lại đến thăm sinh.

Sinh thấy thường ngày lời nói nàng văn hoa, chỉ phải đôi khi, chẳng hiểu tại sao, tự nhiên lời lập khuôn tuôn ra hàng tràng, từ ngữ lạc mất hết ý nghĩa, giọng thì như người hết hơi mà lại cố cho ra vẻ hùng hồn, làm như là diễn thuyết trước đám đông vậy. Nhân lúc thân mật, sinh mới tò mò hỏi : « Người sinh trưởng trên đất nước này, phụ nữ ai ai cũng dầy dầy sẵn đúc một toà, riêng nàng sao lại thân gầy như hạc, xương cốt như mai ; còn văn nói ở đây thói thường phóng túng mà sao nàng thỉnh thoảng lại bật ra lối nói rập khuôn nghịch đời đến thế ? «


Nàng ngả đầu, ứa lệ bùi ngùi mà rằng : « Nào phải riêng mình em mới ra thân thể này đâu ! Tất cả chị em chúng em đều là thân phận mắc phải lời nguyền tuyệt đối tuân theo bề trên. Trên cho sống thì được sống, bảo chết thì lăn vào nước sôi lửa đỏ không chút ngại ngần, chẳng giây phút nào không chăm chắm tuân thủ phép nhà rất nghiêm. Em sinh ra ở nước ngoài mà ngay từ trong trứng nước cũng đã bị bắt luyện theo phép phản xạ có điều kiện, như Tề thiên bị gắn kim cô gặp việc là lưỡi tự nhiên cứng lại như gỗ, lời nói tự động tuôn ra. Với chàng mà thốt ra những lời ý đã mòn tình đã bạc, em hổ thẹn chín nẫu cả người thế mà phản xạ nó cứ đùng đùng kéo lên, không sao ngăn nổi ! «.


Sinh ôm nàng vào lòng, thương xót vô hạn.

Quen nhau được ít lâu, sinh thấy nàng trò chuyện thoải mái không còn nói lối xưa, sờ vào người thấy da thịt sởn sơ hẳn ra, mới đùa rằng : « Từ ngày nàng phải hơi ta, tình sâu, ý đẹp, mượt mà thịt da «. Nàng đỏ mặt, phát vào vai sinh một cái, ngả người vào lòng sinh nói rằng : « Cái anh chàng này tự kiêu vừa vừa chứ, không thì cái mũi đã to thô lố nó lại lớn phổng lên đến bằng quả cà bây giờ đấy ! Thế chị em trong nước ai nấy đang căng sức sống mới, cũng là hơi hướng của chàng đấy à ? «. Đùa bỡn với nhau một hồi, nàng nằm dài bên sinh, lau mồ hôi lấm tấm ướt hai hàng tóc mai, thủ thỉ kể rằng : « Trong nước đang hồi đổi mới. Lãnh đạo tối cao mới nhậm chức là Linh công, vừa rồi có lời huấn dụ chị em chúng em bảo bỏ lối tô hồng xưa, từ nay nói thẳng nói thật, viết không phải bẻ cong ngòi bút mà lách nữa. Nhờ thế chúng em dạo này được nới xiềng xích, rút bỏ phép kim cô phản xạ, được nở mày nở mặt mà nói tiếng nói của người phó thường dân «.


Từ ấy thường đem ra bàn với sinh thuyết dân vi quý giang sơn thứ chi lãnh đạo vi khinh, sinh vô cùng lý thú, tình càng nồng đậm.


Cuối năm Canh Ngọ, sinh thấy nàng có khí hắc ám thường phảng phất trên mặt, đáy mắt ánh lo âu, hỏi lý do, thưa rằng : « Mở rồi lại đóng là thói thường tình của triều chính, em vẫn chờ đợi có lúc này, nhưng đã nếm mùi tự do rồi nghĩ không thể khép mình theo khuôn khổ cũ nổi. Hiện nay các chị em trong nước đã bị xiềng xích trở lại, miệng bị khâu kín hết cả, riêng em ở ngoài xa muôn dặm còn được tự do nhưng tình thế này duyên nợ đôi ta không biết còn được bao lâu nữa «. Sinh kéo nàng vào lòng an ủi : « Tướng ở xa ngoài ngàn dặm thì không tuân lịnh vua, một số đầu mục to nhỏ ở đây cũng đã đôi lúc biết nghe ngóng tiếng nói của dân, không lẽ bây giờ lại đi nhắm mắt cúi đầu tuân theo những lệnh trái với tâm tư nguyện vọng của người xa quê trên đất này sao ? «. Nàng vẫn không ngớt xụt xùi : « Chàng nói như vậy là chưa biết rõ vua quan trong triều thế nào đấy thôi ! «


Một tối cuối xuân Tân Mùi, nàng từ đâu hốt hoảng ùa vào nhà ôm chầm lấy sinh, nức nở. Sinh hỏi dồn, qua tiếng nấc nghe câu còn câu mất hiểu được lời nàng rằng : « Lệnh xiết kim cô, buộc em theo định hướng đã đến rồi. Trở về đường cũ, em làm sao trở về nổi nữa. Em chỉ còn cái chết mà thôi ! Lệnh thi hành thượng khẩn. Thôi thế là hết, đêm nay là đêm cuối của đôi ta ! «. Sinh bật dậy hét to : « Thế là thế nào, để tao cho mấy thằng ấy biết tay tao ! «. Nàng gạt lệ, níu tay sinh ôn tồn nói : « Chàng ơi ! vỗ kiếm trợn mắt có bao giờ giải được việc gì đâu ! Đôi ta chỉ còn có đêm nay, có thật thương em thì lóng tai mà nghe cho hết lời em dặn dò. Em nguyện nói trung thực tiếng nói của người dân, nhưng lỡ vướng phải dây oan nghiệt ràng buộc từ trước khi lọt lòng, chỉ có cái chết mới thoát ra khỏi. Hiện nay, ý dân đang ngùn ngụt ngất trời cao, em nguyện thác sinh để lại nói lên tiếng của lòng dân ta. Chàng và em, đôi ta cùng thiết tha cho tiền đồ dân tộc, cùng thiết tha với tự do, với công bằng, ắt duyên nợ còn dài. Trùng trùng duyên khởi, thế nào em cũng trở lại. Nhớ đón em. Nhớ em bao nhiêu, em sớm được thác sinh bấy nhiêu ! «. Nói xong lại nức nở gục vào ngực sinh, hai hàng lệ nhỏ : « Đã biết là sau khi trút cái xác này thể nào cũng thác sinh trở lại gặp chàng, nhưng bao năm tình nghĩa mặn nồng, giờ phút chia tay không khỏi đau đớn xé lòng ! «.


Ngoài trời mưa gió ; sinh ôm nàng lên giường, thiếp đi lúc nào không biết.

Lúc bừng dậy, chỗ nàng nằm bên sinh nệm còn vết trũng, gối ướt thấm qua cả vai áo sinh, còn nàng thì đã biến đâu mất. Chỉ thấy gió lạnh luồn qua cánh cửa hé mở, thổi hạt mưa lất phất bay tới trong giường.Sinh quặn đau tới thớ thịt chân lông, phóng xe đến địa chỉ của nàng. Dãy nhà ngất cao trên bến sông Xen, cạnh dinh thự bộ tài chánh chắn ngang như bức tường thành. Sinh lần theo hành lang quanh quất đến tận từng dưới tối đen, dãy thùng thơ xắp hàng trên bức tường xừng xững màu xám. Bật lửa lần đọc thấy tên trên một thùng sắt hoen ố, tìm hỏi, không ai biết là đâu.


Sinh đi trở lên, chỉ thấy sóng người lớp lớp tấp nập vào ra, thản nhiên. Mãi đến tầng trên cùng , vào quán gọi rượu.

Bọt rượu li ti, xa xa sông nước, miên man trôi, không dứt.

(Ta thấy trong chỗ giao du, từ tâm sự cho đến tình duyên của nhiều người có một vài điểm ít nhiều tương đồng với Nguyễn bèn ghi lại truyện này tặng bạn bè gần xa, chép xong nhằm một ngày cuối tháng Mạnh Hạ năm Tân Mùi. Ta vẫn biết Hiệp không phải là người làm thơ, tra cứu mới rõ là mấy vần từ miếng sinh thốt ra chính là thơ Thanh Nam, mấy câu thiếu nữ đọc thì vốn là thơ Phương Nam, còn bài thơ cổ là của Hải thượng Lãn ông trong bài tựa Y Tông Tâm Lĩnh. Phó bảng Phan Võ từng dịch là :


Mười năm mài chiếc kiếm,
Sắc bén rực hào quang !
Sát khí xông ngưu đẩu,
Hùng uy động tuyết sương.
Vào Tần đã không phải,
Về Hán còn hoang mang.
Hồ hải luống trôi dạt,
Chí mạnh hoá ngông cuồng.)


Nguyên Thắng
(Bùi Mộng Hùng)

Nguyễn Ngọc Giao