Việt Kiều Paris /Triết gia Trần Đức Thảo -- người chiến binh của niềm hy vọng















Trần Đức Thảo là một triết gia Việt Nam được thế giới ghi nhận. Cuộc đời & Sự nghiệp của Triết gia đánh dấu bằng những biến cố văn hóa chính trị đặc biệt: tranh luận với Triết gia Jean Paul Sartre 1949 , trở về Việt Nam tham gia kháng chiến 1951/1952, tham gia Nhân Văn Giai Phẩm 1956, trở lại Paris và qua đời trong âm thầm tại Pháp 1993, tác phẩm Tìm cội nguồn ngôn ngữ và ý thức của của Triết gia Trần Đức Thảo được tặng "Giải thưởng Hồ Chí Minh" 2000.


http://www.hanoiparis.com trân trọng giới thiệu bạn đọc những bài viết về Cuộc đời & Sự nghiệp Trần Đức Thảo -- Nhà Trí thức tài hoa chân chính dấn thân chịu nhiều oan nghiệt trong một Đất Nước ly loạn đầy ngang trái thiếu Pháp luật & Dân chủ Dân quyền .. .. Sự dấn thân & chọn lựa về phía Đồng bào & Dân tộc luôn luôn đáng quý.. ..


chỉ vì sự lựa chọn của Ông đặt trên mọi tính toán cá nhân và vì lợi ích chung của Tổ Quốc .. ..


**********************************








Triết gia Trần Đức Thảo -- người chiến binh của niềm hy vọng Nguyễn Quyến



Giữa triết học kinh viện và cuộc đời thực có khoảng cách lớn. Nhưng Trần Đức Thảo, người được coi như triết gia biện chứng duy vật lịch sử xuất sắc của Việt nam thế kỷ XX (Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt hai), đã hy vọng tìm thấy chân lý ngay trong đời sống thực một ngày. Và niềm hy vọng đã trả lời trong những tác phẩm triết học uy tín của ông trên thế giới. Điều kỳ diệu là ông đã viết chúng bằng chất liệu rút ra từ đời sống thực ngay chính trên Tổ quốc thiêng liêng của mình.



Cuộc «kịch chiến» huy hoàng

Trong các cuộc tranh luận tư tưởng khoa học, nghệ thuật.. .. giống như trong thể thao (quyền Anh), những người lên tiếng trước, tức là những kẻ «thách đấu» luôn biết rõ sức mạnh thực sự của đối thủ. Chính vậy mà cuối năm 1949, đời sống tinh thần châu Âu chao đảo dữ dội, các nhà tư tưởng, các triết gia, nhà văn, nghệ sĩ.. .. và cả công chúng có tri thức của châu Âu bị chấn động khi vị «chủ soái» của thuyết Hiện sinh nhà văn lẫy lừng khắp thế giới, Jean Paul Sartre, chủ động đưa ra lời mời «tranh luận» với một triết gia người Việt nam, Trần Đức Thảo. Sự kiện J.P. Sare thực tâm muốn tranh luận để cố chứng minh chất «nhân bản» trong chủ thuyết của mình là một chuyện kỳ lạ đối với nhà văn có đầu óc ngạo mạn này. Nhưng các nhà khoa học châu Âu còn kinh ngạc hơn vì trong đầu họ, tri thức chỉ có ở những xã hội văn minh chứ không thể đến từ những nước họ coi là thuộc đia cần được khai sáng. Chính vậy nên khi Trần Đức Thảo nhận lời cuộc tranh luận được ghi lại rất tỉ mỉ, từng lời nói, từng quan điểm để nhanh chóng chứng minh sự thất bại chắc chắn của triết gia An Nam xa xôi.



Cuộc tranh luận tổ chức thành năm buổi luận đàm trực tiếp có nhiều người nghe. Trong thời gian này, thuyết Hiện sinh của J.P. Sartre có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội Pháp, lôi kéo được rất nhiều trí thức và giới sinh viên đi theo. Tư tưởng của J.P. Sartre thực chất là sự biến thể tư tưởng của Rimbaud, nhà thơ hoảng loạn cuối thế kỷ XIX. Thuyết Hiện sinh của J.P. Sartre không có gì mới mẻ cả. Nó không bắt nguồn từ tư tưởng của Kierkegaard như đa số lầm tưởng. J.P. Sartre đã đọc sách tư tưởng phương Đông và rút lấy bài học từ những chứng nghiệm của Thiền tông. Tuy nhiên, J.P. Sartre đã lầm lẫn từ những «hành động» nội tâm sang những hoạt động bình thường trong xã hội. Bằng trái tim chiêm nghiệm phương Đông, Trần Đức Thảo đã chỉ ra thực chất sai lầm của thuyết Hiện sinh, mặt khác, bằng trí óc mạnh mẽ, lập luận lôgích, ông đã chứng minh chất ưu đẳng của chủ nghĩa Duy vật biện chứng theo cảm nhận của cá nhân ông lúc đó. Với vốn tiếng Pháp tuyệt vời của mình, Trần Đức Thảo đã bẻ gãy những «đòn» lập luận lắt léo của người đối thoại. Ông dùng hiện thực lịch sử sinh động để minh chứng cho những quan điểm của mình.



Lập luận của J.P. Sartre vốn dựa vào «tư biện» hoàn toàn, không dựa vào hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống thực nên không đủ thuyết phục ngay cả những trí thức theo dõi bên ngoài. J.P. Sartre lâm vào thế «cưỡi hổ», liền đề nghị một «thỏa hiệp» phân chia «quyền lợi» của thuyết Hiện sinh và chủ nghĩa Duy vật biện chứng: Thuyết Hiện sinh thuộc về triết học; chủ nghĩa Duy vật biện chứng thuộc về những vấn đề chính trị xã hội. Nhưng cái «mẹo» muốn đẩy chủ nghĩa duy vật biện chứng ra khỏi toà lâu đài triết học đã không đánh lừa được triết gia người Việt. Do Trần Đức Thảo giữ vững quan điểm của mình nên cuộc tranh luận đi đến việc định nghĩa lại những khái niệm nền tảng của triết học. Về «ý thức đầu tiên» khởi sinh trong con người được Husserl (Nhà hiện tượng học nổi danh bấy giờ) trình bày trong cuốn «Trải nghiệm và luận giải». J.P. Sartre không nắm rõ cuốn đó nên cuộc tranh luận tạm ngừng lại. Trần Đức Thảo hào hiệp đồng ý không kể lại cuộc trao đổi này. Cuộc tranh luận được ngóng chờ đột nhiên lắng đi khiến dư luận không khỏi thắc mắc. Những môn đồ của J.P. Sartre hậm hực vì phải kết thúc tranh luận trong yên lặng nên nhân dịp này đổ lỗi cho triết gia người Việt làm hỏng cuộc tranh luận. Để bảo vệ quan điểm của mình, Trần Đức Thảo buộc lòng phải lên tiếng đề nghị cho in bản tốc ký. Lúc này, thế giới tinh thần châu Âu mới bàng hoàng hiểu rằng triết gia người Việt chính là người chiến thắng.



Chỉ có một con đường: Nổ súng

Giáo sư Trần Đức Thảo sinh năm 1917 ở thôn Song Tháp, xã Châu Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình khá giả. Cha ông làm ngành Bưu điện nên có điều kiện cho hai cậu con trai xuống Hà nội học trường Tây. Cha ông đăng ký cho ông thi vào học trường Luật, một trường thực dân Pháp mở ra chủ yếu dạy con cái người Pháp ở Hà nội với những giáo sư giảng dạy có tiếng. Lúc này chủ nghĩa phát xít đang để lộ những nanh vuốt khủng khiếp của nó. Giới khoa học cố sức khôi phục tinh thần nhân văn xã hội của Hegel. Điều này để lại ấn tượng vô cùng mãnh liệt cho cậu học trò ham suy luận. Trần Đức Thảo tốt nghiệp xuất sắc trường Luật và được đăng ký dự thi vào Trường cao đẳng Sư phạm phố D'Ulm ở Paris năm 1939. Đây là trường thuộc loại danh giá nhất trong hệ thống đào tạo đại học ở Pháp. Nhiều triết gia, nhà văn, nhà hoạt động xã hội lừng danh của châu Âu từng được đào tạo ở đây Người Việt du học không mấy người thi vào được trường D'Ulm. Do ý thức được ngôi trường mình đang học là đầu mối tiếp xúc của các tư tưởng tiên tiến trên thế giới, Trần Đức Thảo ngày đêm đọc sách, tìm tòi tư liệu trên báo chí. Trong đầu ông tràn ngập tư tưởng của các hiền nhân. Ông đặc biệt quan tâm đến tác phẩm của Husserl và Hegel. Luận văn tốt nghiệp của ông đạt điểm cao nhất khóa học. Tên tuổi ông được giới khoa học đặc biệt chú ý. Thời gian này, tác phẩm của Husserl là chủ đề của hầu hết mọi cuộc đàm luận về triết học và xã hội, bởi phát xít Đức cấm dạy tác phẩm của triết gia này ở các trường đại học. Ông bảo vệ thành công luận án cao học rồi tiến sĩ về «Hiện tượng học của Husserl tại Trường đại học Sorbonne danh tiếng. Do đó ông nghiễm nhiên trở thành một triết gia được giới trí thức chờ đợi và kính trọng. Càng tiến triển trên con đường vinh quang, gặp gỡ nhiều tầng lớp tri thức, Trần Đức Thảo càng nhận rõ số phận đất nước, quê hương của mình. Ông tích cực dạy tư cho nhiều nhóm sinh viên du học người Việt về những tư tưởng triết học tiến bộ trên thế giới. Bên cạnh đó, ông tham gia nhiệt tình vào Hội kiều dân Đông Dương, kêu gọi giới trí thức và nhân dân tiến bộ châu Âu nhận rõ thực chất của chủ nghĩa đế quốc. Đồng thời, bằng những sự thực lịch sử hùng hồn, ông đập tan những luận điệu bôi nhọ, xuyên tạc về Mặt trận Việt Minh. Năm 1944, trong Đại hội kiều dân họp ở Avignon, Trần Đức Thảo đã trình bày cương lĩnh đấu tranh đòi thiết lập nền dân chủ ở Đông Dương. Ông tự mình viết rất nhiều truyền đơn và tổ chức họp báo vận động, kêu gọi kiều dân, dư luận xã hội Pháp ủng hộ cuộc cách mạng chính nghĩa ở Việt nam. Năm 1945, ông cùng với Lê Viết Hường thay mặt Hội kiều dân Đông Dương làm việc với Maurice Thorez -- Tổng bí thư Đảng cộng sản Pháp, tại trụ sở Đảng về tình hình Đông Dương. Nhận thấy những hoạt động của ông tố cáo trực tiếp những lợi ích bẩn thỉu của chế độ thực dân, nhà cầm quyền lập tức bắt Trần Đức Thảo. Nhiều nhà khoa học Pháp, báo Nhân đạo (L'humanité), Thời hiện đại (Les Temps Modemes).. .. liên tục lên tiếng đòi chính quyền trả tự do cho Trần Đức Thảo. Trước phản ứng gay gắt của dư luận, nhà cầm quyền Pháp chơi trò «gắp lửa bỏ tay người», tung tin lập lờ rằng Trần Đức Thảo dường như có quan hệ với phát xít Đức. Nhưng trò chơi tiểu nhân đó không làm cho dư luận lầm lẫn. Giới trí thức thực sự hiểu rõ ông là ai, bởi tên tuổi ông còn gắn với Husserl một kẻ thù của tư tưởng phát xít. Cuối cùng chúng phải thả người con của tự do nhưng không quên công khai giám sát ông chặt chẽ.



Để minh chứng tinh thần bất khuất của một người con yêu nước, Trần Đức Thảo kiên quyết không tiếp tục làm việc với Trung tâm Nghiên cứu quốc gia Pháp (CNRS). Ông dạy triết học tư, viết sách để kiếm sống. Trong một cuộc họp báo kêu gọi ủng hộ cách mạng ở Việt nam, một nhà báo hỏi: «Với tư cách là một triết gia, ông cho rằng nhân dân Việt nam sẽ hành động thế nào khi quân viễn chinh Pháp đổ bộ». Trần Đức Thảo đáp lại ngắn gọn, đanh thép: «Nổ súng?».



Triết gia nhập thế

Cũng giống như các trí thức lớn theo lời hiệu triệu của Hồ Chủ tịch rũ bỏ cuộc sống yên ổn, phồn hoa ở Paris, trở về làm cách mạng. Nhưng số phận ông có điều đặc biệt hơn bởi các nhà triết học thường tự giam mình trong tháp ngà cá nhân xa lánh nhân thế. Khi biết quyết định trở về của ông, những trí thức châu Âu cho rằng thế giới sẽ mất đi một triết gia lỗi lạc. Nhưng khước từ «chủ nghĩa kinh viện» trong nghiên cứu, Trần Đức Thảo thực sự muốn «Phải làm cho cuộc sống nhất trí với triết học». Chính vậy mà tinh thần của ông «nhập thế», lao động với những vấn đề cốt yếu nhất mà xã hội đặt ra. Cuối năm 1951, để khỏi bị theo dõi, ông chỉ mang theo vài cuốn sách quý như thể đi du lịch, bí mật rời khỏi Paris. Từ Luân Đôn qua Praha, qua Mátxcơva, Trần Đức Thảo ngang qua Bắc kinh, tìm đường về biên giới Việt--Trung. Từ lâu, tên tuổi của ông đã là niềm tự hào của giới trí thức và sinh viên trong nước. Buổi thuyết giảng đầu tiên, sinh viên ngồi kín hội trường. Nhiều giáo sư tìm đến nghe. Bằng tiếng mẹ đẻ thuần khiết, ông đã truyền lòng say mê môn học khó khăn này cho sinh viên.. .. Giảng dạy được ít lâu, ông chuyển sang làm những công việc khác, có những công việc hoàn toàn không hợp với khả năng của ông. Cuộc sống thử thách ông, muốn biết ông có bất lực phải trở về với «chủ nghĩa kinh viện cổ điển» trong nghiên cứu triết học hay không. Dường như vai trò một người hoạt động xã hội không hợp với ông. Tuy vậy, ông đón nhận những khó khăn của cuộc sống bằng cách tiếp tục lao động hăng hái hơn. Những tác phẩm của ông liên tục được đăng trên các tạp chí triết học của Pháp như «Hạt nhân của phép biện chứng», «Từ hiện tượng học đến phép duy vật biện chứng của trí thức».. .. Những tác phẩm tiếp theo như «Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người», «Sự ra đời của con người đầu tiên».. .. cho đến tác phẩm cuối cùng «Lôgíc của thực tại sống động» đã khiến ông nổi danh trên toàn thế giới. Những tác phẩm này được dịch ra rất nhiều thứ tiếng như Đức, Tây Ban Nha, Anh, Nhật Bản.. .. và được nghiên cứu trong nhiều trường đại học trên thế giới. Trần Đức Thảo trở thành một trong những triết gia duy vật lịch sử uy tín của thế kỷ XX. Trong lời giới thiệu cuốn «Nghiên cứu nguồn gốc của ý thức và ngôn ngữ» của ông, Nhà xuất bản Xã hội ở Paris viết rằng, tư tưởng của triết gia Trần Đức Thảo đã ghi dấu ấn quan trọng đến tinh thần của cả thế hệ trí thức, sinh viên Pháp những năm năm mươi. Ngay tại nước Đức, đất nước của triết học cũng có nhiều triết gia tự nhận là môn đệ của Trần Đức Thảo. Bằng nỗ lực không ngừng kiếm tìm «triết học» ngay trong cuộc sống hiện tại trên quê hương, ông đã tạo dựng được nền tảng triết lý chắc chắn của môn khoa học vừa khó khăn, vừa đặc biệt «quý tộc» này. Sự ngụy tạo và lười biếng của một số người hay đổ lỗi cho sự khó khăn xã hội nên không làm việc được đã bị phơi bày trước «thực tại sống động» của cuộc đời ông.



Bí mật đời thường của triết gia

Đối với các triết gia, nhu cầu thường trực của họ là được yên tĩnh để suy tưởng, cho nên những nhu cầu cá nhân khác dường như không thiết yếu lắm. Tuy nhiên, tình yêu cũng rạo rực trong trái tim triết gia một lần. Năm 1949, nữ sinh Nguyễn Thị Nhứt sang Pháp để ôn thi vào Trường đại học Sorbonne. Theo lời bạn học, cô đến học ôn triết học của thầy Thảo ngay tại nhà trọ của thầy. Hai người tỏ ra quý mến nhau, nhưng khi gặp thầy cũng chỉ nói chuyện triết học. Trước khi về nước, ông chỉ nói rằng nếu còn gặp lại thì sẽ sống với nhau. Khi bà về nước, họ trở thành vợ chồng và một lễ cưới đơn sơ. Ngay khi sống với nhau, bà hiểu ra rằng tâm trí ông dồn cả vào triết học. Nhiều lần bà ngồi ăn cơm một mình trong khi chồng ở ngay phòng bên cạnh. Ông hầu như không để ý đến những nhu cầu cá nhân hằng ngày, thậm chí còn khó chịu khi ai đó tỏ ra chăm sóc mình vì vô tình người kia đã kéo ông ra khỏi dòng suy tưởng. Một mình bà không thể giữ được tình cảm thuở ban đầu. Bà bị viêm tử cung và không thể có con. Đứa con -- sự ràng buộc đồng thời là thiên thần che chở cho hạnh phúc gia đình, cuộc đời không ban cho vợ chông bà. Bà lặng lẽ ra đi. Gia đình không hiểu đời sống của triết gia, muốn tìm cho ông một người bạn đời khác, ông kiên quyết từ chối. Ông sống một mình và tự lo lấy sinh hoạt cá nhân hằng ngày. Do ông bị bệnh tiểu đường nên món ăn chính của ông là lạc rang và đậu xanh. Theo lời cháu họ ông kể lại thì khi triết gia vào bếp, từ hai món đó sẽ nấu thành những món ăn chưa từng thấy trong các sách nội trợ. Để lấy chỗ để sách, ông nhờ mấy người buôn đồng nát đến cho họ khiêng khỏi nhà từ giường, tủ buýpphê, chăn màn, giày dép, chén điã.. .. Căn phòng chỉ còn chiếc đivăng lớn chất đầy sách chừa ra một khoảng nhỏ có mắc màn sẵn.



Một lần, mọi người trong khu tập thể thấy khói bay ra từ nhà ông, hàng xóm xô cửa vào thấy ông đang ngồi viết, chiếc nồi nhôm đang đun bên cạnh bị nung đỏ, thức ăn cháy hết.. ..



Sau một thời gian ngắn trở lại Paris làm việc, sống trong một điều kiện vật chất, tiện nghi hết sức tối thiểu, triết gia Trần Đức Thảo vĩnh biệt thế giới vào hồi 8 giờ 10 phút ngày 24.4.1993 tại Bệnh viện Broussais. Thi thể triết gia được hỏa thiêu, gửi tro về chôn ở nghĩa trang Văn Điển.



Hôm đưa tang, bà Nhứt đến với vòng băng tang trên cánh tay to hơn một chút so với vòng tang của những người bình thường. Ông đã ngủ yên trong lòng Đất Mẹ. Mãi mãi như vậy, từ Đất Mẹ «trí tuệ» trổ hoa, tỏa hương bay khắp bốn phương.







*********************************



Trần Đức Thảo (1917--1993)

Niên biểu

Cao Việt Dũng dịch và chú thích



Sau khi Trần Đức Thảo mất không lâu, tờ Les Temps Modernes số 568 tháng 11 năm 1993 (năm thứ 49) có dành mấy chục trang tưởng niệm một trong số rất nhiều người từng lên tiếng tranh luận với J. P. Sartre, trong đó có bài của Michel Kail về Trần Đức Thảo, bài về niên biểu cuộc đời Trần Đức Thảo do chính ông viết và ba chương đầu của tác phẩm bỏ dở Logique hiện tại sống động (La Logique du présent vivant).

Người dịch



**************************



Sinh ngày 26 tháng Chín năm 1917

1923 -- 1935: Học trường trung học Pháp tại Hà Nội

1935 -- 1936: Năm đầu luật tại Hà Nội

1936: Đến Paris học dự bị để thi vào trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm

1936 -- 1939: 1re Supérieure ở Louis--le--Grand và Henri IV [1]

1939: Vào Rue d'Ulm [2]

1939 -- 1941: Bằng Licence Triết [3]

Hè 1940: Trú (réfugié) ở Bagnères--de--Bigorre [4]

Tháng Mười 1940 -- tháng ba 1941: Trú ở Khoa Văn chương ở Clermond--Ferrand [5] , nơi khoa của Strasbourg cũng di về. Chính tại đây tôi đã gặp Jean Cavaillès người đã hướng dẫn tôi đọc Husserl [6] .

Tháng Ba 1941 -- tháng Chín năm 1944: ở nội trú tại trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm.

1942 -- 1943: Bằng agrégation Triết [7]

1943 -- 1944: Nghiên cứu ở Phố Ulm để làm luận án tiến sĩ Nhà nước về hiện tượng luận của Husserl.

Đầu năm 1944: Ở ngắn ngày tại Bỉ, trung tâm lưu trữ Husserl ở Louvain. Edmund [Husserl] đã mất năm 1937 ở Đức sau khi bị bọn phát xít đuổi (radier) khỏi Đại học. Bà Husserl phải đi lánh nạn ở Bỉ, nơi Đại học Louvain đã tạo ra một khoa đặc biệt dưới cái tên Lưu trữ -- Husserl (Archives--Husserl), để tiếp nhận thư viện, các ghi chép và bản viết tay của Edmund Husserl.

Những nghiên cứu mà tôi thực hiện ở đó đầu năm 1944 đã cho phép tôi chính xác hoá những điều tôi đã vạch trước trong luận văn (mémoire de diplôme): cần biết rằng trái ngược với những diễn giải thông thường đã biến hiện tượng luận Husserl thành một học thuyết của các bản chất (essence) vĩnh cửu, những phân tích thực tế (effective) của Husserl hướng về một triết học về thời gian, về con người lịch sử và lịch sử phổ quát (universelle), «thời gian tính, temporalité, Husserl nói, là thời gian tính phổ quát, omnitemporalité, mà bản thân nó chỉ là một dạng của thời gian tính.»

Chính từ đó mà tôi đã đi đến Hiện tượng học tinh thần (Phénoménologie de l'Esprit) của Hegel mà tôi đã từng phải bình luận trong bài báo của mình trên Les Temps Modernes (tháng Chín năm 1948).

Tháng Mười năm 1936 -- tháng Chín năm 1944: Được nhận học bổng của Bộ thuộc địa.

Tháng Mười 1944 -- tháng Chín 1946: Tuỳ viên (attaché des recherches) nghiên cứu tại CNRS (Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia) [8] .

Tháng Mười hai 1944: Báo cáo (rapporteur) chính trị tại Hội nghị (Congrès) Đông dương tại Avignon, nơi tôi đã giới thiệu một chương trình xây dựng nền dân chủ ở Đông Dương.

Tôi đã được chọn để thực hiện báo cáo chính trị, vì mọi người đều biết tôi không hề có quan hệ gì với bọn phát--xít. Sau ngày Giải phóng, đó là điều kiện đầu tiên để có thể nói đến chính trị. Hội nghị được tổ chức tại phòng khánh tiết của Toà thị chính Avignon [9] ; thị trưởng là một người cộng sản.

Tôi được bầu làm thành viên Tổng Phái đoàn của người Đông Dương ở Pháp (Délégation générale des Indochinois en France), và phụ trách nghiên cứu các vấn đề chính trị.

Đầu năm 1945: Tôi có một cuộc gặp, nhân danh Tổng Phái đoàn của người Đông Dương, với Maurice Thorez tại trụ sở của Uỷ ban trung ương đảng cộng sản Pháp. Nhất trí về đại thể cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa đế quốc: cuộc chiến giành độc lập dân tộc này cần phải dẫn tới, vì lý do những điều kiện khách quan của thế giới hiện nay, chủ nghĩa cộng sản. Lời hứa của Maurice Thorez [10] về một giúp đỡ cụ thể cho các tổ chức của đảng cộng sản Pháp cho các nhóm địa phương khác nhau được đại diện bởi Tổng Phái đoàn của người Đông Dương sống ở Pháp. Lời hứa này đã hoàn toàn được giữ.

Tháng Chín năm 1945: Các truyền đơn và họp báo ủng hộ Việt Minh và chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong một bài báo trên tờ Le Monde liên quan đến cuộc họp báo của tôi, người ta đã trích dẫn câu trả lời của tôi dành cho câu hỏi của một nhà báo hỏi tôi người Đông Dương sẽ làm gì khi đội quân viễn chinh tới, tôi trả lời: «Bằng những phát súng» (A coups de fusils!) Câu trả lời này đã khiến tôi bị bắt và bị giam ở Nhà tù Prison de la Santé từ đầu tháng Mười đến cuối tháng Chạp năm 1945 vì «tấn công vào sự ổn định của Nhà nước Pháp trong những lãnh thổ mà nước Pháp nắm quyền» (Xem Les Temps Modernes số 5, tháng Hai năm 1946, tr. 878). Trong khi tôi bị giam giữ, báo L'Humanité đã đăng một bài báo đòi trả tự do cho tôi.

Maurice Merleau--Ponty, tổng biên tập tờ Les Temps Modernes đã đứng ra lập một tờ đơn quy tụ các trí thức theo cùng một mục đích [11] .

Ở Phố Ulm, mọi người bị chia rẽ. Những người cộng sản và cảm tình cộng sản (trong số đó thời đó phải kể đến những người theo hiện sinh) đòi trả tự do cho tôi. Rất quan trọng cần nhận xét rằng trong thời Đức chiếm đóng, nhóm Pháp tham gia Kháng chiến chống phát--xít có quan hệ với bên cộng sản. Sartre rẽ nhánh trực tiếp từ Husserl, và ông đã chịu ảnh hưởng về mặt triết học của Heidegger, nên giữ khoảng cách từ xa.

Các học sinh khác hoặc cựu học sinh của trường Cao đẳng Sư phạm phản đối việc bắt giam tôi, chỉ đơn giản do tinh thần dân chủ.

Một nhóm nào đó còn do dự, vì lý do họ có quan hệ với Tập hợp nước Pháp (Union française). Cuối cùng còn có những người ủng hộ Bộ thuộc địa. Những chia rẽ này đã ngăn cản sự thực hiện một sự phản đối tập thể do bên cộng sản khởi xướng.

Tuy nhiên, độc lập với vấn đề tự do của tôi, các sự việc dần đã trở nên sáng tỏ: tôi vẫn tiếp tục là học sinh nội trú tại trường Cao đẳng Sư phạm kể từ khi từ Clermond--Ferrand trở về (tháng Ba năm 1941) cho đến ngày Paris được giải phóng. Nơi này không khoan nhượng chủ nghĩa phát--xít. Các học sinh có cảm tình với quân chiếm đóng đều là sinh viên ngoại trú, và thực tế là không bao giờ đến trường cả.

Tôi không biết có ai ở Phố Ulm ủng hộ những lời vu cáo phi lý về những tờ báo vu cho tôi có quan hệ với quân phát--xít. Có thể có, điều đó không thể loại trừ, vì lẽ hoàn toàn không có những can thiệp thuần tuý. Tôi là chuyên gia về Husserl, người từng bị đuổi khỏi Đại học tại Đức ngay khi bọn phát--xít lên nắm quyền. Tôi đã bắt đầu nghiên cứu hiện tượng luận Husserl nhờ Jean Cavaillès hướng dẫn, người tham gia Kháng chiến kể từ khởi đầu cuộc Chiếm đóng.

Tổng Phái đoàn của những người Đông Dương đã định khởi kiện lời vu khống của những tờ báo vu tôi có quan hệ với bọn phát--xít. Những tờ báo này đã ngay lập tức chấm dứt những lời vu khống, vì thấy rằng chúng hoàn toàn không có cơ sở nào hết.

Tháng Hai năm 1946: Những bài báo Về Đông Dương được xuất bản trong số 5 tờ Les Temps Modernes, với mở đầu là một dòng chú thích của biên tập có nhắc đến những tờ báo vu khống, do Bộ Thuộc địa giật dây:

«Về Đông Dương»

«Đầu tháng Mười, quân cảnh (la justice militaire) đã bắt giữ khoảng năm mươi người Đông Dương sống ở Paris. Lúc đó một số tờ báo đưa tin những người Đông Dương bị bắt là do đã từng hợp tác với chính quyền Đức và Nhật. Trên thực tế, toà án (la justice) đã không hề kết án họ về tội này và những tờ báo vu khống giờ đây đã bị truy tố vì vu cáo. Điều mà toà án chê trách ở những người Đông Dương bị bắt là đã gây nguy hại đến ổn định của Nhà nước Pháp tại các lãnh thổ mà Nhà nước nắm quyền» (Les Temps Modernes, số 5, tháng Hai năm 1946, tr. 878). N.D.L.R.

Tôi viết bài báo Về Đông Dương trong xà lim nơi tôi bị giam giữ một mình tại nhà tù Prison de Santé.

Tôi đã sử dụng sự giải trí bị bắt buộc (ces loisirs forcés) này để rà soát lại nhận thức hiện tượng học của mình. Bài báo của tôi theo hướng hiện sinh. Nhưng tình hình khách quan tôi ở vào, với sự đối nghịch sâu sắc giữa dân tộc thuộc địa và chủ nghĩa tư bản đế quốc, đã hướng tôi đến con đường của chủ nghĩa Mác--Lênin. Định hướng này sau đó đã được hiện thực hoá trong cuốn Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng (1951).

Cuối năm 1946 (hoặc đầu năm 1947): Bài báo trên Les Temps Modernes đã đả kích gay gắt những lời vu cáo do tay trốtkít Claude Lefort tung ra chống Việt Minh và đảng cộng sản Đông Dương.

1947: Bài báo trên tờ La Pensée đả kích sự trấn áp của thực dân chống Việt Nam.

1947: Loạt hội thảo dành cho học sinh trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm về hiện tượng luận của Husserl.

1947 (hoặc đầu năm 1948): Bài báo trên Revue de métaphysique et de morale (Tạp chí siêu hình học và đạo đức) về triết học mác--xít và lịch sử, trong đó tôi tán thành các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử.

1947 -- 1948: Loạt hội thảo ở trường Cao đẳng Sư phạm Sèvres về Husserl, Kant, Hegel.

Tháng Chín năm 1948: Bài báo trên Les Temps Modernes, số 36 Về Hiện tượng luận tinh thần và nội dung thực tế của nó nhân dịp xuất bản giáo trình của Alexandre Kojève về Hiện tượng luận tinh thần của Hegel. Giáo trình này, được giảng dạy trước chiến tranh, đã có các học sinh theo học như là J.--P. Sartre, J. Hippolyte, M. Merleau--Ponty v.v.. .., điều này khiến nó có được một ảnh hưởng đáng kể lên triết học Pháp. Chủ yếu nó được cấu tạo để chống lại chủ nghĩa duy vật biện chứng. Vì Merleau--Ponty yêu cầu tôi viết một bài điểm sách cho Les Temps Modernes, tôi đã thực hiện thông qua một nghiên cứu cụ thể về tác phẩm của Hegel. Và tôi đã đi đến kết luận rằng chỉ biện chứng duy vật mới cho phép hiểu nội dung thực tế (contenu réel), và do đó, ý nghĩa chân thực của Hiện tượng luận Hegel.

Bài báo của tôi, được viết để chống lại cách diễn giải hiện sinh luận Hegel của Kojève, đã cho phép tôi đồng thời giải phóng khỏi cách nhìn mang tính duy tâm của Husserl. Nó là «chiếc cầu» dẫn tôi đi từ hiện tượng luận Husserl đến chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Cuối năm 1948 (hoặc đầu năm 1949): tôi ký tên vào một tuyên bố của giới trí thức (xuất bản trên tờ l'Humanité) phản đối sự trấn áp của tên phản bội Tito lên những người dân chủ Nam Tư.

Cuối năm 1949 -- đầu năm 1950: Năm cuộc tranh luận có ghi tốc ký với Jean--Paul Sartre về chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh.

Sartre đã mời tôi đến những cuộc gặp gỡ này vì ông tính chứng tỏ ở đó rằng chủ nghĩa hiện sinh có thể tồn tại hoà bình rất tốt về mặt học thuyết với chủ nghĩa Marx. Việc ghi tốc ký có mục đích là để chuẩn bị cho việc xuất bản chung dưới dạng trao đổi [12] .

Sartre chỉ công nhận giá trị của chủ nghĩa Marx về mặt chính trị và lịch sử xã hội. Ông không coi trọng triết học mác--xít lắm. Ông đề nghị một chia sẻ (un partage) tại đó chủ nghĩa Marx có quyền (compétent) trong một khuôn khổ nào đó về những vấn đề xã hội, còn chủ nghĩa hiện sinh sẽ có giá trị trong triết học.. .. Trong năm cuộc gặp gỡ tôi đã chỉ cho ông rằng chính xác là phải coi trọng chủ nghĩa Marx cả về triết học. Về điều đó, Sartre đã kết thúc tranh luận, thấy rằng không thể hy vọng thêm được nữa. Kết luận cuối cùng khi chúng tôi chia tay là sẽ không đặt ra vấn đề này nữa, ở cả hai phía. Về lời hứa hai bên này, Sartre và nhất là những người thân cận của ông đã lan truyền những đồn đại đổ lên tôi trách nhiệm của thất bại. Vì tôi chỉ có một mình, tôi không có cách nào khác để chấm dứt những đồn đại thất thiệt này ngoài việc đâm đơn kiện Sartre. Và trên thực tế chiến dịch bẩn thỉu (insidieuse) mà các học trò của ông đã bắt đầu, đã kết thúc ngay lập tức.

Năm 1952, Sartre đã quyết định tham gia tích cực vào Phong trào Hoà bình. Có thể những trao đổi về mặt quan điểm hồi mùa đông 1949 -- 1950 đã đóng góp một phần nhỏ bé vào tiến triển của ông về hướng cộng tác với chủ nghĩa cộng sản [13] ?

Với tôi những cuộc gặp gỡ này đã dẫn đến sự đoạn tuyệt với chủ nghĩa hiện sinh, sự đoạn tuyệt đã bắt đầu với bài báo của tôi tháng Chín năm 1948 chống lại bình luận Hiện tượng luận tinh thần Hegel của Kojève.

Tháng Tám năm 1951: Xuất bản cuốn Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng tại nhà xuất bản Minh Tân [14] .

Cuốn sách này đánh dấu bước phát triển của tôi từ Hiện tượng luận đến chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trên thực tế tôi mới chỉ đến ngưỡng cửa chủ nghĩa Marx. Tôi đã công nhận tính đúng đắn của các nền tảng lý thuyết của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mà không hề có hiểu biết đầy đủ về các văn bản kinh điển của chủ nghĩa Mác--Lênin. Trong các phân tích cụ thể của phần hai cuốn sách của tôi, phương pháp muốn là Marxit, đã lạc đường chao đảo giữa hiện tượng luận Husserl và Hegel.

Tuy nhiên các vị thế nguyên tắc, đã được khẳng định rõ ràng, là đủ để tôi quyết định trở về Việt Nam. Cần phải làm cho cuộc đời ăn nhập với triết học, thực hiện một hành động thực tế (acte réel), điều đáp trả lời những kết luận lý thuyết của cuốn sách của tôi.

Từ khi tôi đoạn tuyệt với nhóm Les Temps Modernes vào đầu năm 1950, những người bạn tuyệt vời của tôi đã có lý khi gợi ý với tôi là không còn hy vọng gì trông chờ một cuộc cách mạng ở Paris. Vì tôi đồng ý với điều đó, tôi đã nhanh chóng hoàn thành cuốn sách của mình đã được thông báo từ cuối năm 1943, năm tôi đăng ký làm một luận văn về Husserl. Lúc đó nhẽ ra tôi sẽ làm cho Sorbonne [15] , nhưng tôi cũng cần tự giải thoát về mặt triết học. Cuốn sách được xuất bản, chỉ dày 368 trang vì lý do thiếu thời gian.

Trước khi rời Paris, tôi đã nhờ Nguyễn Văn Chi (Chỉ/Chí?), người phụ trách giao thiệp với bên Les Temps Modernes, lo việc chấm dứt, nhân danh tôi, vụ kiện Jean--Paul Sartre.

Cuối năm 1951 -- đầu năm 1952: Trở về Việt Nam qua đường Praha, Matxcơva, Bắc Kinh.

1952: Nghiên cứu về hai xưởng công nghiệp ở Việt Nam, Báo cáo cho Trung ương -- Điều tra về thực trạng các trường học ở Việt Nam. Báo cáo cho Bộ Giáo dục.

Mùa xuân năm 1953: Dịch các tác phẩm của đồng chí Trường Chinh trong các văn phòng của Tổng bí thư. Mùa hè năm 1953: Tham gia Chỉnh Huấn. Thành viên Ban Văn--Sử--Địa.

Mùa thu năm 1953 -- đầu năm 1954: Tham gia cải cách ruộng đất với tư cách chiến sĩ cơ sở ở Phú Thọ.

1954: 9 bài báo về lịch sử và văn học Việt Nam, xuất bản trên tạp chí Văn--Sử--Địa Mùa thu năm 1954: Giáo sư ở Đại học Hà Nội.

1954 -- 1955: Dạy Lịch sử cổ đại.

1955 -- 1958: Dạy Lịch sử triết học [16]

1956 -- 1958: Trưởng khoa Lịch sử

1955 -- 1956: nhiều bài báo đăng trên Tập san Đại học Sư phạm và trên Tập san Đại học (Văn khoa).

Cuối năm 1956: 2 bài báo đăng trên Nhân Văn và Giai Phẩm nơi tôi đã nhầm lẫn dân chủ xã hội và dân chủ tư sản, chủ nghĩa nhân văn mác--xít và chủ nghĩa nhân văn tư sản.

1958 -- 1961: Nghiên cứu các văn bản kinh điển chủ nghĩa Mác--Lê.

1961 -- 1973: Tham gia dịch các tác phẩm của Marx -- Engels tại Nhà xuất bản Sự Thật [17] .

1965: Bài báo trên tờ La Pensée: Hạt nhân duy lý của biện chứng Hegel (dịch một bài báo viết bằng tiếng Việt đăng năm 1956 trên Tập san Đại học (Văn khoa).

1965: Bài báo trên tờ La Pensée: Chuyển động của chỉ dẫn như dạng nguyên thuỷ của sự chắc chắn cảm thấy được (Le mouvement de l'indication comme forme originaire de la certitude sensible)

1969 -- 1970: Bài báo đăng ba kỳ trên La Pensée: Từ cử chỉ chỉ trỏ đến hình ảnh đặc thù (Du geste de l'index à l'image typique)

1973: Xuất bản Tìm cội nguồn ngôn ngữ và ý thức (Recherches sur l'origine du langage et de la conscience» tại Editions Sociales.

Tháng Giêng và tháng Chín năm 1975: Bài báo đăng hai kỳ trên La Nouvelle Critique (Phê bình mới): Từ hiện tượng luận đến biện chứng duy vật của ý thức (De la phénoménologie à la dialectique matérialiste de la conscience)

Tháng Năm năm 1981: bài báo trên tờ La Pensée: Chuyển động của chỉ trỏ như là sự hình thành sự chắc chắn nhận thấy được (Le mouvement de l'indication comme constitution de la certitude sensible)

Tháng Giêng năm 1983: Phần tiếp theo của bài báo

Tháng Bảy năm 1984: Bài báo trên tờ La Pensée: Biện chứng logique trong sự hình thành Tư bản luận

Trong tiến trình của mình, tôi đã được dẫn đến với chủ nghĩa Marx bằng hai con đường: một là cuộc đầu tranh giành độc lập dân tộc dẫn tới chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, nghiên cứu triết học và lịch sử đã chỉ cho tôi thấy rằng chỉ chủ nghĩa Mác--Lênin mới cung cấp giải pháp đúng đắn cho những vấn đề chung của lý thuyết khoa học.

Trong những năm sau chiến tranh, khi tôi làm quen lần đầu tiên với các tác phẩm của chủ nghĩa Marx, tôi đã chấn động vì nhận xét thấy Tuyên ngôn của đảng cộng sản về khả năng một bước chuyển một phần của các trí thức tư sản sang vô sản, trong giai đoạn khủng hoảng chung của chủ nghĩa tư sản nhờ vào nguyên cứu lịch sử phổ quát (universelle). Nhận xét này đã đưa tôi đến chỗ hướng các nghiên cứu của mình, những nghiên cứu cho đến lúc đó chỉ thuần tuý ở mức trừu tượng, sang một suy nghĩ toàn thể về thực tế của chuyển động lịch sử, về bản chất lý--hoá đến cuộc sống, xã hội và ý thức.

«Vào các thời kỳ khi đấu tranh giai cấp tiến đến gần hồi quyết định, tiến trình phân rã bên trong của giai cấp thống trị bên trong toàn bộ xã hội cũ, có một tính chất tàn bạo và mãnh liệt đến nỗi một mảnh nhỏ của giai cấp thống trị sẽ tách khỏi giai cấp của mình và gắn với giai cấp cách mạng, giai cấp nắm tương lai trong tay mình. Cũng vậy, ngày xưa một phần giai cấp quý tộc đã chuyển sang tư sản, thì ngày nay một phần tư sản cũng chuyển sang vô sản, nhất là một phần các nhà tư tưởng tư sản, do công việc của mình, đã tự hiểu được lý thuyết toàn thể tiến trình của lịch sử.»

Hà Nội ngày 1 tháng Hai năm 1984 Trần Đức Thảo



[1]Hai trường lycée nhưng là lycée đặc biệt, nằm gần Panthéon và Sorbonne, đặc biệt có các lớp préperatoire hay gọi tắt là prépa cho các học sinh ưu tú ôn luyện để thi vào các trường lớn, Grandes Ecoles, của Pháp. Học về tự nhiên và xã hội, thường là hai năm, bên xã hội năm đầu gọi là hypokhâgne, năm hai gọi là khâgne (theo tiếng Lyon là câgne), người học gọi là khâgneux. Học xong hai năm này thì thi, đỗ rất ít, nhưng trượt thì vào đại học học luôn deuxième cycle khỏi phải qua đại cương.

[2]Tức là thi đỗ vào trường Cao đẳng Sư phạm

[3]Là năm đầu tiên của deuxième cycle, năm thứ hai là maitrise. Học sinh trường Cao đẳng Sư phạm phải học thêm một trường đại học khác nếu muốn lấy bằng.

[4]Vì lý do chiến tranh

[5]Tức là ở miền Trung nước Pháp, quê của Blaise Pascal và là cái nôi của hãng lốp xe Michelin rất nổi tiếng.

[6]Jean Cavaillès là một trí thức dấn thân kháng chiến, hy sinh trong chiến tranh. Cựu học sinh Ulm, hiện tại Ulm có cái tượng kỷ niệm những học sinh chết vì đất nước, có tên Cavaillès và một phòng học khá to ở tầng hai mang tên ông.

[7]Một bằng đặc biệt của ngành Giáo dục, dành cho những người muốn trở thành giáo viên. Đây là một kỳ thi rất khó, gồm nhiều bài thi nhỏ, cả viết và vấn đáp.

[8]Trung tâm tập trung gần hết các nhà nghiên cứu giỏi nhất của Pháp, có không ít người Việt, chẳng hạn Nguyễn Quang Riệu từng là giám đốc nghiên cứu -- directeur de recherches -- ở đây.

[9]Avignon là một thành phố nhỏ của Pháp, nhưng có lịch sử rất oanh liệt vì là nơi duy nhất ngoài Vatican từng có trụ sở của Toà Thánh.

[10]Thorez là anh cả đỏ của Pháp, ngoài gặp Trần Đức Thảo trước đó ông cũng đã gặp Hồ Hữu Tường là người ủng hộ Đệ Tứ.

[11]Chuyện này rất giống với vào những năm 60, Camus đã tập hợp đông đảo trí thức trên thế giới ký đơn đòi chính quyền Ngô Đình Diệm không được xử tử Hồ Hữu Tường.

[12]Tức loại sách entretiens, rất thông dụng ở Pháp, thường là hai hoặc nhiều người bàn luận về một hay nhiều vấn đề, rồi chép lại và in thành sách.

[13]Sau này Sartre còn ngồi ghế Thư ký cho Toà án chiến tranh Việt Nam của Chánh án Bertrand Russell tổ chức tại Thuỵ Điển.

[14]Ai từng đọc các tác phẩm của Hoàng Xuân Hãn như La Sơn Phu Tử hoặc Lý Thường Kiệt chắc đã biết đến NXB này. Cũng những năm 50, họ đã xuất bản Từ điển Hán -- Việt của Đào Duy Anh bằng phương pháp sao chụp, ở trang đầu có đăng thư ngỏ của ông Nguyễn Ngọc Bích thanh minh in sách mà không có điều kiện hỏi ý kiến tác giả trước.

[15]Có thể Trần Đức Thảo cũng đã theo học Triết ở Sorbonne là nơi cách Ulm khoảng 10 phút đi bộ.

[16]Ở Việt Nam có một quyển sách tập hợp các bài giảng của Trần Đức Thảo về môn này, do học trò ghi lại và cho in.

[17]Không thấy Trần Đức Thảo nói đến chuyện dịch Perspectives de l'homme của Roger Garaudy, triết gia mác--xít của Pháp, giờ vẫn còn bản ronéo ở Thư viện Quốc gia Việt Nam.









*********************************************



Vĩnh Viễn Về Quê Hương Văn Học .. ..
Nguyễn Hữu Viện
Tặng hương hồn Triết gia Trần Đức Thảo



Dòng suy tưởng cách hiện sinh
Paris bút chiến hành trình thanh xuân
Giã từ theo tiếng non sông
Mùa Thu kháng chiến một lòng trí trai
Biết bao kỳ nữ anh tài
Đáp lời sông núi ngày mai trường tồn
Hiện tượng luận biện chứng ôn
Nhân văn Giai phẩm nát hồn tài hoa
Phận đau trí thức thân ma
Bao năm đày đọa xót xa kiếp người
Giữa độc tài lẫn giặc ngoài
Chiến tranh tàn khốc xé hai quê nhà
Nay trở lại cõi người ta
Quê hương văn học tạ từ tồn sinh .. ..
Sống trọn nghĩa chết quang vinh
Anh về vĩnh viễn yên mình Paris .. ..



Paris -- Thu 10/1993











Paris Ngàn Giọt Lệ .. ..

Nguyễn Hữu Viện

Hồn vĩnh viễn nhập luồng hiện sinh
Đất triết học văn chương tiền định
Anh về yên nghỉ với Sông Seine
Hiếu thảo phù sa hồng Bắc Vịnh
Giã từ danh vọng cho Đại nghĩa
Tâm đức non sông lòng trung trinh
Bút chiến gió Mặt Trời réo gọi
Vệt sao băng chớp sáng u minh



Thôi nhé trăng tàn trận khẩu chiến
Anh về hẹn gặp với bạn hiền
Một thuở tài danh trên đất khách
Chung sinh văn hóa nhập hai miền
Tiếng gọi núi sông trùng điệp điệp
Chiến khu ngòi bút thép trung kiên
Chữ tâm quyết thắng sao vận mệnh
Mai sau gương ấy giấc đoàn viên



Paris, ngày Triết gia Trần Đức Thảo qua đời

Ngày 24.4.1993







Nguyễn Hữu Viện

Nguyễn Quyến & Cao Việt Dũng & Nguyễn Hữu Viện