Tiến Trình Toàn Cầu Hóa /Globalization/Mondialisation/Toàn cầu hóa Chủ Nghĩa Dân Tộc











Toàn cầu hóa Chủ Nghĩa Dân Tộc
===================



Khủng bố 11 tháng 9 tại Tháp Đôi Nữu Ước







Mai Thanh Truyết--Nguyễn An


Ðề tài của tạp chí Khoa học và Môi trường kỳ này là «Toàn cầu hóa và chủ nghĩa dân tộc». Cụm từ toàn cầu hóa đã được phổ biến nhanh và rộng trên toàn thế giới từ đầu thập niên 1990 nhờ phương tiện thông tin trên mạng Internet, và dần dần xâm nhập vào các lãnh vực kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ, khiến cho các biên giới địa dư quốc gia cũng mờ nhạt dần. Như để bắt đầu câu chuyện, thì trước hết vẫn đề nghị tiến sĩ giới thiệu ý niệm «Toàn cầu hóa» cùng quý thính giả.


Tiến sĩ Mai Thanh Truyết:
Toàn cầu hóa là một thực tế và là một thực tiển bao gồm mọi khía cạnh của con người từ kinh tế, văn hóa, giáo dục cho đến thông tin, khoa học, tin học v. v. .. Có những ngôn ngữ toàn cầu: ngôn ngữ khoa học, toán học, ngôn ngữ của máy điện toán. Anh ngữ trong một giới hạn nào đó là một ngôn ngữ toàn cầu.


Có những tổ chức toàn cầu: Liên Hiệp Quốc (UN), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Cao ủy tị nạn LHQ (UNHCR), Ngân hành thế giới (WB), Quỷ tiền tệ thế giới (IMF), Tổ chức mậu dịch thế giới (WTO). Các đại công ty (conglomerats) là những công ty toàn cầu. Có những giá trị có tính cách toàn cầu như nhân quyền, tự do, dân chủ. Sự tham gia trao đổi buôn bán nhiều chiều có khi là yếu tố quyết định cho sự phồn thịnh của quốc gia.


Việc các bức màn sắt xã hội chủ nghĩa phải tự hủy, các nước xã hội chủ nghĩa phải mở cửa để tiếp cận với thế giới Âu Mỹ.. ..để sống còn là thí dụ điển hình nhất cho tiến trình toàn cầu hóa.


Nguyễn An:
Tiến trình toàn cầu hóa như vậy có thể nói là một con đường đi lên tất ýêu của thế giới. Nhưng trong thực tế, có những thế lực và tổ chức chống lại tiến trình ấy. Tíên sĩ nghĩ sao?


Tiến sĩ Mai Thanh Truyết:
Có nhiều lý do giải thích một số tổ chức chống toàn cầu hóa trong những năm gần đây. Vào tháng 12,1999, Tổ chức Mậu dịch thế giới (TWO) họp ỏ Seattle (Hoa Kỳ). John Zerzan, người cầm đầu các nhóm biểu tình bạo động cổ động cho chủ nghĩa vô chính phủ để khích động tuổi trẻ chống lại cuộc họp thượng đỉnh. Tại Melbourne (Úc) năm 2000, Krishanappilai, phối trí viên cho cuộc biểu tình lần nầy dùng chiêu bày đã kích các đại công ty đa quốc bốc lột để khích động người biểu tình. Gần đây nhất tại Toronto (Canada, 2002), tại Genova (Ý), các lãnh đạo của nhóm biểu tình vẫn mang sự chống đối việc áp đặt kinh tế của các cường quốc làm nền tảng cho cho cuộc tranh đấu.


Nhưng thật sự, họ có biểu tình nhưng chính họ cũng không biết họ muốn gì! Lấy chiêu bài chống áp đặt kinh tế lên các quốc gia nhỏ để bốc lột.. ..họ đã nhìn sự toàn cầu hóa dưới một nhản quan hẹp hòi. Khía cạnh kinh tế chỉ là một điều kiện cần trong tiến trình toàn cầu hóa nhưng chưa đủ để giải quyết và nâng cao các nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi người trên thế giới. Có được như vậy, mọi mâu thuẩn địa phương, sắc tộc,.. .. .. sẽ lần lần được cải thiện để rồi sau cùng thế giới có hy vọng tránh được những đáng tiếc trong cung cách tiếp cận và trao đổi với nhau. Sự cảm thông và chia xẻ sẽ làm cho thế giới an bình hơn.


Nguyễn An:
Như tiến sĩ vừa trình bày, thì tiến trình toàn cầu hóa của nhân lọai không phải chỉ xuất hiện gần đây, mà đã diễn ra từ nhiều thập kỷ trước. Quay trở về với Việt Nam? Việt Nam đã thể hiện và phản ứng như thế nào trước tiến trình ấy của thế giới?


Tiến sĩ Mai Thanh Truyết:
Từ thời quân chủ phong kiến bước sang chế độ cộng hoà và gần đây chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trãi qua nhiều giai đoạn xã hội khác nhau. Từ hậu bán thế kỹ 19 đến thập niên 40, chế độ quân chủ và thuộc địa đã liên tục đan kẻ với nhau tạo ra một hình thức xã hội phức tạp gồm dân tộc chủ nghĩa, cách ly chủ nghĩa và nô lệ chủ nghĩa.


Để đương đầu với chính sách thực dân Pháp, chính quyền và sĩ phu Việt Nam thời bấy giờ cố bám víu vào những giá trị văn hóa, tinh thần đã từng được xem là tinh hoa của dân tộc. Do đó đất nước hoàn toàn bị cách ly và cô lập với thế giới mặc dù có sự hiện diện của người Pháp như là một gạch nối với tây phương. Thêm nữa, chính sách thực dân thuộc địa cũng đã làm nảy sinh ra chủ nghĩa bài ngoại cực đoan khiến cho đất nước hầu như hoàn toàn bị bưng bít và không được tiếp cận với thế giới bên ngoài.


Trong thời đệ nhất và đệ nhị cộng hoà, miền Nam có thêm điều kiện giao tiếp với văn minh tây phương. Điều nầy tạo ra một xã hội tương đối mở dù đang ở trong hoàn cảnh chiến tranh. Chủ nghĩa bài ngoại cực đoan dần dần nhường bước cho các ý hướng canh tân của một số trí thức và đoàn thể. Trong giai đoạn nầy, dân trí dân sinh của người dân miền Nam lần lần được cải thiện và tăng trưởng theo đà tiến hóa của các xã hội tây phương trên thế giới.


Nguyễn An:
Đó là giai đọan đất nước bị chia đôi. Tiến sĩ vừa nói đến miền Nam. Còn miền Bắc thì sao?


Tiến sĩ Mai Thanh Truyết:
Ngược lại miền Bắc vẫn chủ trương một xã hội kín. Tuy có tiếp cận với Nga sô và Trung quốc, nhưng những tiếp cận nầy thuần túy chỉ để phục vụ cho chiến tranh mà thôi; người dân miền Bắc hoàn toàn bị bưng bít và được tuyên truyền «mở» dưới chiêu bài cùng sách lược của chủ nghĩa đại đồng xa vời.


Ngay sau khi chiếm miền Nam năm 1975, chủ nghĩa nầy đã được tức khắc áp đặt cùng với tinh thần dân tộc chủ nghĩa bai ngoại được áp dụng triệt để trong suốt mười năm đầu thống nhất đất nước. Chính quyền khơi động những truyền thống văn hóa, lịch sử, huyền sử VN để tô hồng cho chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Niềm tự hào dân tộc của những người cầm quyền đã làm tê liệt đất nước về đủ mọi mặt trong suốt mười năm từ sau 1975..


Họ đã tự hào khi thổi phồng những nét đặc thù về văn hóa, văn minh, cùng sự phát triển của đất nước để, một mặt che đậy sự lạc hậu đối với thế giới bên ngoài, một mặt bưng bít kín không cho người dân trong nước có cơ hội tiếp cận với các tiến bộ của nhân loại. Họ cố cổ súy một thời đại huy hoàng của dân tộc trong quá khứ để từ đó xem như là một sức bật để bước vào tiến trình hiện đại hóa xã hội trong tương lai.


Cho đến thời điểm 1986, trước áp lực trong và ngoài nước cùng với sự kiệt quệ kinh tế và bế tắc trong phát triển, một chính sách chủ nghĩa dân tộc «mở tạm thời» bắt đầu được áp dụng và từ đó làm cho mọi chuyển dịch của đất nước tiến theo chiều thuận của toàn cầu hóa mặc dù vẫn còn quá chậm và quá cách biệt so với các quốc gia trong vùng.


Nguyễn An:
Như vậy, chính sách mở cửa của Việt Nam bắt đầu từ 1986, theo TS nhận định thì việc mở cửa đó có đưa đến những thành quả hay bất lợi gì không cho Việt Nam?


Tiến sĩ Mai Thanh Truyết:
Từ năm 1986 trở đi Việt Nam đang mở cửa trực tiếp tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Và chỉ trong một thời gian ngắn xã hội Việt Nam đã có nhiều biến chuyển đáng ghi nhận như có một nguồn sinh khí mới thổi vào xã hội và người dân Việt. Tuy nhiên với những hạn chế do nhu cầu sinh tử là sự bảo đảm an toàn quyền lực của chế độ, Việt Nam trong thế mở vẫn còn tạo ra nhiều trăn trở và khó khăn cho xã hội. Việt Nam vẫn còn dò dẫm trong tư thế của một xã hội nông nghiệp, phát triển từ từ lên xã hội công nghiệp, để rồi đang phải chịu hụt hẫng trước thế toàn cầu hóa.


Thật khó thực hiện được một xã hội hài hoà bao gồm các xu hướng phát triển không đồng nhất thậm chí mâu thuẩn lẫn nhau. Một lần nữa, làm sao tránh khỏi tụt hậu trước tiến trình toàn cầu hóa trong lúc lãnh đạo Việt Nam vẫn còn giữ thái độ thù nghịch, nghi kỵ với hầu hết các quốc gia trên thế giới? Làm sao phát triển thành một xã hội công nghiệp hóa lấy căn bản nông nghiệp làm tiêu chuẩn như trường hợp Việt Nam hiện tại? Mở nhưng vẫn đóng. Đóng trong định kiến. Đóng trong lo sợ bị đào thải. Càng đóng lại càng có nguy cơ bị đào thải sớm hơn.


Nguyễn An:
Theo TS thì những yếu tố nào khiến cho lãnh đạo hiện tại tin tưởng vào sự ổn định của Việt Nam trước hiện trạng TCH?


Tiến sĩ Mai Thanh Truyết:
Hiện nay, người ta có cảm tưởng như những yếu tố sau đây là chính yếu trong sắc thái dân tộc của Việt Nam là:

1-- Tài nguyên thiên nhiên phong phú và chưa được khai thác đúng mức;

2-- Tiềm năng nhân lực dồi dào;

3-- Nước nghèo, nhân công rẽ và thừa thải, thông minh và dễ huấn luyện tay nghề;

4-- Có bàn tay sắt của nhà cầm quyền giữ gìn trật tự và sự ổn định;

5-- Thiếu luật lệ rõ ràng và tham nhũng dễ cho các phiêu lưu mậu dịch, chỉ cần liên hệ với một số người có chức vị và có quyền lực trong đảng;

6-- Đa số dân chúng sống về nghề nông với một nền công nghiệp còn thô sơ.. .. .. Từ những sắc thái đặc thù đó, người Việt Nam sống về huyền thoại nhiều hơn thực tiển và huyền thoại gần đây nhất là Việt Nam lại một lần nữa «cường điệu» trong dự kiến phóng vệ tinh nhân tạo vào năm 2005 trong khi việc sản xuất một chiếc xe đạp cho người dân vẫn chưa hoàn chỉnh!!!


Nguyễn An:
Vậy Việt Nam cần phải làm gì để có thể theo kịp đà phát triển của cộng đồng thế giới ngày nay.


Tiến sĩ Mai Thanh Truyết:
Nếu muốn đuổi kịp cộng đồng các quốc gia trên thế giới, Việt Nam cần: -- Mở cửa «thực sự» để học hỏi, lựa chọn, đón nhận cái mới. Cái mới, cái chưa biết nào cũng có những hiểm nguy của nó. Sự tính toán dò dẫm là cần thiết, nhưng quá tính toán có khi tính già hóa non, vì để mất thời cơ. -- Không nên tạo thêm huyền thoại. -- Tập cho người dân thực tiển hơn. -- Không ngừng phát triển sắc thái dân tộc, cái sức mạnh bên trong tức nội lực, để tự tạo cho mình một thế mạnh trong sự bang giao với cộng đồng các quốc gia trên thế giới.


Nếu thực hiện thực sự những điều trên, Việt Nam đã tạo ra điều kiện cho mọi người dân, mọi dân tộc trong cộng đồng quốc gia tham gia vào cuộc sống chung, để mọi cá nhân, mọi đoàn thể đều có thể tự lập, tự sinh sống, không ỷ lại vào sự sáng suốt hay sức mạnh của một đảng, một nhà nước hay của một cấp lãnh đạo nào. Để cho mỗi người Việt Nam tự thấy mình thực sự còn có nội lực để đóng góp tích cực và toán diện trong mạch sống quốc gia.


Vai trò của nhà lãnh đạo quốc gia không là chiếm hữu quyền lực, có quyền sinh sát sinh linh, mà là làm cho người người, nhà nhà tham gia vào việc làm giàu cho họ, cho gia đình họ, cho dân tộc họ, và cho quốc gia họ, làm cho quyền lợi của họ mật thiết với quyền lợi của dân tộc hay quốc gia.


Tóm lại, từ ngày xưa, chủ nghĩa dân tộc đã một thời thúc đẩy sự phát triển quốc gia. Nhưng ngày nay, cung cách suy nghĩ mới của phát triển đã vượt qua rào cản của ranh giới quốc gia và ngôn ngữ của các dân tộc trên thế giới. Bây giờ và tương lai cần phải có một sự phát triển hài hoà chung cho cả nhân loại. Tiến trình toàn cầu hóa là một tiến trình tự nhiên và là kết quả có được qua suốt chiều dài của lịch sử phát triển trong tranh chấp của các quốc gia trên thế giới. Toàn cầu hóa không phải là từ bỏ bản sắc dân tộc của từng quốc gia mà là hội tụ của tất cả mọi văn hóa dân tộc để đạt đến một sự phát triển toàn diện cho nhân loại.







Mai Thanh Truyết & Nguyễn An