Tiến Trình Toàn Cầu Hóa /Globalization/Mondialisation/Bên lề Hội nghị Cancún









BÊN LỀ HỘI NGHỊ CANCÚN



Đỗ Tuyết Khanh



Bốn năm sau Hội nghị Seattle, tôi lại khăn gói lên đường phục vụ Hội nghị các Bộ trưởng của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), được tổ chức năm nay tại Cancún (Mễ Tây Cơ) từ 10 đến 14 tháng 9. Theo nội qui của WTO, Hội nghị các bộ trưởng, cơ quan tối cao của tổ chức, phải họp ít nhất 2 năm một lần để ấn định chương trình làm việc, phát động các vòng đàm phán, giám sát tiến trình đàm phán và chính thức thông qua các kết quả đã đạt được. Hội nghị Cancún đánh dấu nửa chặng đường của vòng đàm phán Doha đã được phát động tháng 11.2001 tại Doha (Qatar) và sẽ phải chấm dứt tháng 1.2005, theo lịch trình đã ấn định. Cancún do đó được coi như một cái mốc quan trọng, ảnh hưởng lên chặng đường còn lại và tuỳ theo kết quả sẽ báo hiệu cho sự thành công hay thất bại của cả vòng Doha.



Theo thông lệ của WTO, quá trình chuẩn bị mỗi hội nghị bộ trưởng xoay quanh bản dự thảo tuyên bố chung, là văn kiện quan trọng nhất, vạch ra các phương hướng hoạt động và các điểm đã thống nhất, là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động của tổ chức cũng như mọi thương thuyết giữa các thành viên. Ngày trước, khi tổ chức GATT, tiền thân của WTO, còn là một tổ chức nhỏ ít người biết, các hội nghị bộ trưởng chỉ là những cuộc họp thường vụ, «trong vòng thân mật», chả ai đề ý đến ngoại trừ một ít chuyên gia. Nhưng từ vòng Uruguay trở đi, khi mấy chữ «toàn cầu hoá», «chủ nghĩa tự do kinh tế» xuất hiện ngày càng tràn lan trong báo chí và dư luận, GATT rồi WTO bỗng dưng thành cái đích cho sự phẫn nộ của tất cả những ai chống toàn cầu hoá, chống tư bản, chống nhà băng, chống Nestlé, bảo vệ rừng, bảo vệ tôm, bảo vệ rùa. Các hội nghị bộ trưởng cũng trở thành những cái hẹn cho những phong trào chống đối kéo đến bày tỏ sự tức giận, và từ sau Seattle, để đập phá cho thoả chí.



Bên ngoài đã vậy, bên trong cũng leo thang căng thẳng. Bản tuyên bố chung không chỉ còn là một thủ tục thường lệ, thông qua một cách tất nhiên, mà tự nó trở thành một đối tượng thương thuyết, mỗi câu chữ được mặc cả gắt gao như những mục tiêu quan trọng của các vòng đàm phán. Quá trình soạn thảo kéo dài cả mấy tháng trước hội nghị, càng cận ngày càng gấp rút, đòi hỏi nhân viên làm việc ngày, đêm và cuối tuần y như trong những lúc hội nghị. Trước Seattle, bản dự thảo tuyên bố chung được viết đi viết lại trong suốt 5,6 tháng liền, bắt nhân viên WTO phải thức khuya dậy sớm liên tục hết tuần này sang tuần kia. Trước Doha và trước Cancún, quá trình soạn thảo ngắn hơn nhưng vẫn theo một kịch bản quen thuộc : mỗi bản dự thảo đưa ra đều bị bên này chê là cứng quá, bên kia là mềm quá. Không ai cảm thấy quyền lợi và nguyện vọng mình được chiếu cố một cách đúng đắn cả. Ai cũng kêu là mình cho quá nhiều mà chẳng nhận bao nhiêu. Ai cũng thấy mình thật là biết điều, đầy thiện chí, còn mấy anh kia sao mà cứng đầu, tham lam và quá quắt.



Khi phát động vòng Doha, các bộ trưởng đã ấn định cả một lịch trình. Đầu tiên là phải đồng ý với nhau về phương thức (modalities) thương thuyết, các chi tiết thuần kỹ thuật, trước khi bàn tới nội dung. Chỉ mới có thế thôi mà các thành viên cũng không đồng ý với nhau nổi. Tháng 12.2002, rồi tháng 3, tháng 5.2003, v.v., các mốc đề ra để thoả thuận về các vấn đề thuốc men cho các nước nghèo, nông nghiệp, mở cửa thị trường cho hàng công nghiệp, đều trôi qua trong sự bế tắc, mỗi người cố thủ trên quan điểm của mình. Nước này đổ tội cho nước kia và hô hào người khác hãy vì quyền lợi chung mà nhượng bộ. Ai cũng nhắc nhở đến tầm quan trọng của Cancún, khuyến cáo là nếu thất bại thì sẽ ảnh hưởng trầm trọng như thế nào lên hệ thống thương mại đa phương và toàn bộ nền kinh tế thế giới.



Nhiều lúc tôi tự hỏi các thành viên WTO có lẽ hoặc thích đùa dai hoặc nghĩ là đời sẽ tẻ nhạt lắm nếu không có những cú sốc bất ngờ vào phút chót sau khi đã cho thiên hạ hồi hộp chán chê. Tháng 12.2002, tất cả 145 nước thành viên thoả thuận về vấn đề thuốc men cho các nước nghèo, chỉ một mình Mỹ là khăng khăng không chịu nên rốt cuộc chìm xuồng. Cả năm 2003, các nhóm thương thuyết trên mọi đề tài đều bế tắc, chỉ có vấn đề thuốc men là thấy le lói ánh sáng cuối đường hầm. Tổng giám đốc WTO, ông Supachai Panitchkadi, cố gắng tranh thủ ít ra được một kết quả khả quan cho Cancún. Sau nhiều ngày (và đêm) họp, cuối tháng 8.2003, các thành viên đi đến được đồng thuận. Theo chương trình, các phái đoàn sẽ tề tựu lúc 4 giờ chiều ngày thứ năm 28.8 để ký văn bản về thuốc men, sau đó đi dự buổi lễ tưởng niệm Sergio Vieira de Mello, đại diện của Liên Hiệp Quốc tại Irak bị thảm sát tại Bagdad, rồi 9 giờ đêm trở lại họp Đại hội đồng để chính thức thông qua văn kiện hầu trình lên các bộ trưởng ở Cancún. Chúng tôi được lệnh ở lại ít ra đến 9 giờ đêm để «lỡ có gì» thì phải cấp tốc dịch. Nhưng cả buổi chiều hôm ấy, các đại diện ngồi chờ một buổi họp không bắt đầu vì giờ chót có hai nước bỗng đưa ra thêm điều kiện khiến Mỹ lại giẫy nẩy lên, và các trưởng phái đoàn phải vá víu mọi chuyện lại từ đầu, họp cho đến khuya. Mất cả dịp đến viếng con người tài hoa, lỗi lạc, rất được yêu mến của gia đình Liên Hiệp Quốc. Trưa hai hôm sau, chỉ còn mươi ngày trước Cancún, thoả thuận về thuốc men được cứu vãn.



Trong bối cảnh và không khí ấy, các phái đoàn và nhân viên WTO lục tục lên đường đi Cancún


Cancún, biển rộng, cây xanh, cát trắng.. ..



Cancún là nơi du lịch nổi tiếng nhất của Mễ Tây Cơ, thu hút hàng năm hơn 2 triệu du khách, phần lớn từ Mỹ, và chiếm hơn 20% doanh thu của ngành du lịch, nguồn thu ngoại tệ thứ nhì của cả nước sau dầu hoả. Nhưng đấy cũng là một thiên đàng của tiêu thụ, ăn chơi và giải trí, điển hình cho sự phát triển theo mô hình tư bản, đối chọi giữa xa hoa phù phiếm và nghèo đói, cho cái hố sâu Bắc--Nam. Tại sao lại chọn đúng chỗ ấy mà tổ chức hội nghị của WTO để hứng lấy những câu lên án, mỉa mai quá đương nhiên, vẽ lên hình ảnh của một nhóm quan chức tụ tập với nhau trong một khung cảnh thần tiên để định đoạt số phận của đám dân đen bị lùa ra xa chỗ hội họp, không đến đuợc nơi cửa quyền ?



Nhưng khi nhìn thấy bản đồ Cancún trên trang Web của ban tổ chức hội nghị thì tôi vỡ lẽ ra ngay. Ngoài các yếu tố tiếng tăm (quảng cáo thêm Cancún cho gần một chục ngàn khách đến từ một trăm mấy chục nước), cơ sở vật chất (một phi trường nhỏ nhưng hiện đại, nhiều khách sạn cao cấp, một trung tâm hội nghị rộng rãi và trang bị tối tân), lý do chính có lẽ là một địa thế rất đặc biệt cho phép bảo vệ an ninh một cách tối ưu. Cancún gồm hai phần, thành phố nơi dân chúng ở, và một hòn đảo hình thù khá lạ, tựa như con số 7 («lucky 7»), một dải đất hẹp, chiều ngang lắm chỗ chỉ hơn 100 thước, nhưng trải dài trên 25 cây số, nối với đất liền ở hai đầu bằng hai con cầu. Giữa đảo và đất liền là một cái vịnh rất lớn, ven bờ nhiều chỗ còn rừng đước um tùm. Toàn bộ đảo là khu khách sạn (Zona hotelera), chỉ có một đại lộ chạy suốt chiều dài, Paseo Kukulcán, rất đẹp, ở giữa trồng đủ loại hoa, cây kiểng, cây cọ, cây dừa trên một thảm cỏ xanh mịn, tỉa tót công phu, tạo nên một khung cảnh trù phú và an bình. Phía biển là các khách sạn tiếp nối nhau, và đua nhau phô bày kiến trúc nguy nga tráng lệ, sân golf, vườn hoa. Phía vịnh là các cửa tiệm, quán ăn, vũ trường, văn phòng du lịch, dịch vụ thuê xe, đổi tiền, đua nhau màu mè đèn đuốc, sao cho thật loè loẹt, thật chói mắt. Xa xa, phía bờ bên kia của vịnh là rừng bạt ngàn, không có ai ở, tất cả chỉ tập trung ở ba nơi : thành phố, Ciudad Cancún còn gọi là «Downtown», khu khách sạn và phi trường, nối với nhau bằng đại lộ Kukulcán, huyết mạch của cả vùng. Như thế chỉ việc chặn hai đầu là có thể khoanh lại một vùng «cấm địa» và kiểm soát được tất cả ai ra vào.



Trung tâm hội nghị CCC (Centro de Convenciones de Cancún) là một toà nhà hình con ốc ở mỏm bắc của đảo, giữa lòng một khu khách sạn năm sao, chung quanh ba mặt đều là bãi biển. Vì cả đảo chỉ có một con đường nên không đâu có số nhà mà tất cả đều định hướng so với khoảng cách đối với thành phố. Một trong những đường chính của Ciudad Cancún là đại lộ Tulum, chấm dứt ở ranh giới thành phố để trở thành đại lộ Kukulcán và chỗ giao điểm ấy gọi là Km 0. Những biệt thự và khách sạn đầu tiên xuất hiện ở Km 6, và Trung tâm CCC ở Km 9. Trong khoảng thời gian hội nghị, khu vực giới hạn giao thông bắt đầu ở Km 0, và đấy là nơi xảy ra các xô xát giữa các nhóm biểu tình bị chặn lại và các lực lượng an ninh trấn giữ các hàng rào cản. Chỉ có những người làm việc trong khu vực -- nhân viên các hàng quán và khách sạn -- mới qua được Km O. Trung tâm CCC và mấy khách sạn ngay sát đó, nơi các phái đoàn và nhân viên WTO ở, cũng được rào kín lại dọc hai bên lề đường, để bảo đảm an ninh mà vẫn cho phép xe cộ đi lại bình thường. Để băng qua đường từ khách sạn sang Trung tâm, chúng tôi mỗi ngày phải men theo hàng rào đến một trong mấy cái cầu sắt mới dựng lên, chỗ nào cũng có quân đội đứng kiểm soát, leo lên lên xuống bở hơi tai trong cái nóng hầm hập như thiêu như đốt.



Cancún thuộc bang Quintana Roo, trên bán đảo Yucatán, ở miền Nam của Mễ Tây Cơ nên đã là vùng nhiệt đới, ẩm và nóng quanh năm. Trong lúc tôi ở đó, nhiệt độ khoảng 35--37° C, mặt trời lúc nào cũng chói chang. Toàn bộ nhân viên WTO ở khách sạn Krystal, ngay xế trung tâm CCC nên rất tiện đi lại, có thể tranh thủ về phòng nghỉ ngơi đôi lát. Tôi may mắn được phòng nhìn ra biển, vừa yên tĩnh vừa được ngắm nhìn mỗi ngày quang cảnh thần tiên của trời, biển bao la và xanh ngắt. Mấy hôm đầu còn tương đối rảnh, tôi được đi làm muộn nên cứ mỗi sáng ra bãi, kiếm chỗ mát nằm đọc sách rồi lơ mơ ngủ gà ngủ gật trong tiếng sóng. Biển đẹp tuyệt trần, nước xanh và trong vắt, mát rượi, dốc thoai thoải và sóng dịu nên thật lý tưởng. Cát trắng tinh, mịn như bột và rất sạch sẽ nên có thể vô tư đi dạo, không sợ dẫm phải cái gì làm mình mất vui! Trên nguyên tắc, các bãi tắm đều công cộng nhưng vì các khách sạn nối tiếp nhau dọc bờ biển, chỉ cách nhau bằng khu vườn nên mỗi nơi nghiễm nhiên thành có bãi riêng. Dân địa phương và những du khách ở trong thành phố thường đến những bãi xa hơn. Trong thời gian hội nghị, trên các bãi rộng và vắng, ít người tắm, chỉ có vài tốp lính và nhân viên an ninh ngày đêm canh gác.



So với các bãi tắm chật chội đông đúc, đầy sỏi đá của Âu châu thì các bãi cát mịn, mênh mông trên 20 cây số của Cancún quả là thiên đàng. Và những Nha Trang, Đồ Sơn, Sầm Sơn của Việt Nam thì khó mà cạnh tranh nổi về mặt tiện nghi, sạch sẽ và các phương tiện giải trí. Người Mễ vui vẻ, cởi mở và sốt sắng, cũng làm du khách cảm thấy dễ chịu và muốn ở lâu. Họp hội nghị trong khung cảnh như thế thì quá tốt cho WTO nhưng Cancún có «phải vạ» không, khi mà «đánh» WT0 (và G--8, và mọi buổi hội họp quốc tế quan trọng khác) đã trở thành cái mốt cho một số người ?



Khi chỗ vui chơi thành địa bàn «đấu tranh»



Từ tháng 9 đến hết tháng 11, Cancún ít du khách, một phần vì bắt đầu có bão, một phần vì hết thời kỳ nghỉ hè. Do đó hội nghị của WTO phải tổ chức sớm hơn, vào lúc này, thay vì tháng 12 như theo lệ thường, để đỡ ảnh hưởng lên đời sống và công việc làm ăn của thành phố. Có thể nói chính quyền Mễ Tây Cơ đã giải quyết thành công các nhu cầu trái ngược nhau : các phái đoàn phải được yên ổn họp hành, các phong trào chống đối phải được tự do phát biểu, và người dân phải được tiếp tục sinh hoạt bình thường. Các vụ biểu tình đụng độ ở cách xa nơi họp cả chục cây số nên không hề ảnh hưởng đến diễn tiến của hội nghị, kể cả lần duy nhất có một nhóm vài chục người lọt được vào khu vực kéo tới gần trung tâm CCC, nhưng không «phá đám» được nhiều hơn là chắn đường cản trở giao thông trong khoảng 2 tiếng. Các nhóm chống đối đã được tha hồ họp báo, họp mít tinh và bày tỏ lập trường bằng các chiến thuật thần sầu như cởi truồng trên bãi tắm, tụt quần chổng mông vào cảnh sát và đập phá đó đây. Dân chúng thì vẫn tiếp tục làm ăn, dẫu có phải chịu một số phiền toái về đi lại, và những thiệt hại do bạo động gây ra.



Bản thân tôi ngày càng chán ngán những luận điệu giáo điều của những nhóm coi việc phá phách bạo động là thuộc về quyền «tự do ngôn luận» của họ. Có gì là «vinh quang» cho các cô các cậu từ Mỹ, từ các nước giàu tới đập phá những hàng quán, đèn đường, cột điện, những cơ sở vật chất khiêm tốn của một nước nghèo ? Sau khi họ xoắn xít khen nhau, ăn mừng «thắng lợi» rồi trở về nhà, có ai khác ngoài những người Mễ, lương trung bình chưa tới 10 đô--la một ngày, phải đi dọn dẹp đống rác rưởi họ bỏ lại, sửa chữa những đổ vỡ thiệt hại do họ gây ra, theo ước tính sơ khởi của ông Juan Ignacio García Zalvidea, thị trưởng thành phố, là khoảng 3 triệu pesos (300 000 đô--la) ? Giả thử Việt Nam đứng ra tổ chức một buổi họp của WTO, ta sẽ nghĩ gì nếu thấy quán phở bị trét sơn nhoe nhoét, tiệm kem bị đập tủ kiếng vì dại dột không cất đi cái bảng quảng cáo Coca Cola hay bia Heineken ?



Và cả những hành động có vẻ vô thưởng vô phạt «chẳng chết ai» như việc một nhóm người nằm trần truồng trên bãi biển để xếp thành chữ «WTO NO « đối với tôi, ngoài yếu tố làm trò cười, cũng nói lên một thái độ khá tiêu biểu những người không hề thắc mắc đến phong tục tập quán, sự nhận cảm, nói tóm lại, văn hoá của kẻ khác. Xã hội Mễ còn mang nặng tính «macho», quan niệm đàn bà mà hở hang là không đứng đắn. Cái «happening» trên bãi biển đó, theo tôi, cũng khiếm nhã đối với dân địa phương, xúc phạm đến quan niệm về thuần phong mỹ tục của họ y như các du khách mặc đồ tắm phô mông phô bụng đi nhởn nhơ trong phố thậm chí có khi vào cả nhà thờ, chùa chiền. Đấy có khác gì một tác phong «đế quốc văn hoá», càng đáng buồn khi xuất phát ở những người «tiến bộ», vẫn lớn tiếng tuyên bố ủng hộ các nước nghèo.



Trời vẫn xanh trên một cái chết vô vọng


Nhưng nói cho cùng tất cả những la ó, vung tay giơ chân kia có cái gì vặt vãnh, vô nghĩa trước một sự kiện thật sự bi thảm, làm chấn động mọi người : ngay hôm khai mạc hội nghị, ngày 10.9, một nông dân Nam Hàn tự sát trước đám biểu tình và cảnh sát để phản đối WTO. Ai cũng sửng sốt, xúc động vì đối với chúng tôi, ông Lee Kyung Hae tuy không quen biết nhưng cũng không xa lạ. Năm 1993, ông đã tự đâm vào mình trong tiền sảnh của WTO tại Genève, may mà cứu kịp. Cuối tháng 2 năm nay, ông đến cắm lều trước trụ sở của WTO, lặng lẽ biểu tình một mình với tấm biển «WTO kills farmers» đeo trước ngực. Có khi ông ngồi hàng giờ trên phiến đá cạnh cổng ra vào, có khi ông chui vào lều, nhưng trong suốt ba tuần, dáng dấp thấp bé, khuôn mặt hiền lành ấy trở thành một sự hiện diện im lặng mà quen thuộc. Ông chỉ nói tiếng Triều Tiên nên không trao đổi được với ông, nhưng ông mỉm cười với mọi người ra vào và mọi người cũng cũng cười đáp lại. Có khi ông giơ tay chỉ chỏ vào tấm biển đeo ở ngực, chúng tôi cũng chỉ biết gật đầu rồi lắc đầu, có khi thêm vài cử chỉ tỏ ý bất lực rồi thôi. Có người mang đến cho ông cơm nóng, nước uống, có người cố nói vài câu hỏi chuyện ông nhưng cũng chịu thua khi ngôn ngữ bất đồng. Có lẽ trong mấy đứa chúng tôi không có ai là không ít nhất một lần đã nói : «Trông ổng thấy thật tội quá».



Nếu có được cách nói với ông, tôi và chắc người khác nữa sẽ hỏi : «Tại sao ông lại quyết định như thế ? Biết bao người phản đối WTO, với đủ mọi lý do đúng và sai, nhưng có ai phải đi đến chỗ tự sát. Cái chết của ông chỉ gây đau đớn cho người thân của ông, xót xa và băn khoăn những người vô quyền hành như chúng tôi, nhưng lay chuyển gì đuợc những mối tương quan lực lượng chằng chịt và sắt đá giữa hàng trăm quốc gia, có vang vọng gì đến những người ở đâu xa tít nơi quyền cao chức trọng ? Mà nếu họ có nghĩ đến ông năm ba phút thì có thay đổi gì không ? Biết bao người đã chết ở Irak, để chỉ lấy thí dụ đó thôi, những kẻ chỉ huy trong Toà Bạch Ốc hay Lầu Năm Góc có ai mất ngủ không ? Tôi tôn trọng suy nghĩ của ông, cố gắng hiểu sự phẫn uất của ông, nhưng vẫn thấy sự hy sinh của ông vô vọng và bi thảm quá «.



Ngoài kia trời vẫn xanh, sóng vẫn dạt dào, vô tình trước một hành vi tuyệt vọng và những rối rắm của thế giới loài người.

Cái sốc vừa lắng xuống, hôm sau, ngày 11.9, sếp tôi hối hả chạy vào, nét mặt vừa căng thẳng vừa bàng hoàng : «Dịch ngay cái này Khanh ơi, gấp và quan trọng lắm, họ đợi ngoài kia kìa !». Tờ giấy chỉ vỏn vẹn vài giòng, không có thì giờ đọc qua máy tính, tôi ra đọc thẳng cho cô thư ký đánh máy : « Đại sứ quán Thụy Điển tại Mễ Tây Cơ .. .. gửi lời chào trân trọng đến Tổ chức thương mại thế giới và các phái đoàn tham dự Hội nghị bộ trưởng.. .. và đau buồn thông báo bộ trưởng Anna Lindh đã qua đời.. .. sau khi bị ám sát.. ...» Tôi giật thót người, ba cô thư ký rú lên : «Hả ? Cái gì ? Trời ơi ! «. Tôi giục họ : « Đánh tiếp đi, gấp lắm. Làm nhanh cho xong đã «. Mấy ngày nay quanh quẩn trong khu vực này, tin tức bên ngoài chỉ biết qua vài tờ báo địa phương và Internet, ai cũng tưởng chuyện xảy ra tại Cancún, không khí chùng hẳn xuống. Xem lại danh sách các bộ trưởng tham dự hội nghị, vào Internet mới biết rõ hơn. Dù không liên hệ đến WTO, cái chết này vẫn kinh khủng, vô lý và làm choáng váng. Như ngày 11.9, cách đây đúng hai năm. Như tin Olof Palme bị ám sát. Nhưng một ý nghĩ len lỏi đến làm tôi cảm thấy dễ thở hơn : ít nhất đây không phải là một hành động «trả thù» cho ông Lee, xuất phát từ một đầu óc bệnh hoạn hay man rợ nào đó, với những hậu quả không lường được. Cái chết của bà Lindh vẫn không thể chấp nhận được nhưng ít ra không phải là sự khởi đầu của một cuộc leo thang, một cơn xoáy lốc đẩy xa thêm nữa mức độ của điên cuồng và tàn bạo giữa con người.



Biển vẫn xanh, trời vẫn xanh, con chim vẫn nhảy nhót trên chùm dừa xum xuê sát cạnh khung cửa sổ văn phòng tôi.

Một hội ngộ ngắn ngủi nhưng nhiều lý thú

Đây là lần thứ nhì tôi đến Mễ Tây Cơ. Cách đây 27 năm, cũng tháng 9, năm 1976, tôi đến làm việc cho một hội nghị của Liên Hiệp Quốc, ở cả tháng tại thủ đô Mexico City. Mục đích là thành lập, trong phạm vi tổ chức UNCTAD, một Uỷ ban về hợp tác kinh tế giữa các nước đang phát triển. Lúc ấy, ý tưởng xây dựng các quan hệ «Nam--Nam», hình thành một liên minh thế giới thứ ba để làm đối trọng cho quan hệ bất bình đẳng «Bắc--Nam», là đề tài lớn, không xa xôi lắm với câu khẩu hiệu «vô sản các nước hãy đoàn kết lại». Lúc ấy, chiến tranh Việt Nam vừa mới chấm dứt, hào quang của những người đi dép cao su đánh bại B--52 còn nguyên vẹn, rực rỡ lắm, nhất là ở một nước như Mễ Tây Cơ, có một quan hệ phức tạp, «giận mà thương» với Mỹ, phần nào như Việt Nam với Trung Quốc, cùng ở sát nách một anh khổng lồ rất dễ đè bẹp mình. Người Mễ nhìn nước Mỹ cũng từa tựa như nhiều người Việt nhìn Trung Quốc : vừa bị hấp dẫn bởi cái sức mạnh to tát, vừa dè chừng chính cái to tát ấy, vừa nể nang vừa tự ái. Năm 1976, tôi ở Mexico tương đối lâu, công việc tương đối nhàn, lại có tới hai anh phụ tá (một anh buổi sáng, một anh buổi chiều!), nên có nhiều cơ hội trao đổi với họ. Nhất là khi thấy người Việt Nam, lại nói tiếng của họ thì người Mễ cởi mở vui vẻ lắm, từ nhân viên trong khách sạn đến những người bán hàng rong trên hè phố, trong công viên. Để bày tỏ cảm tình với Việt Nam, nhiều người cho tôi những món quà nho nhỏ đáng yêu.



Gần 30 năm sau, tôi trở lại trong bối cảnh khác, không phải chỉ vì Cancún khác Mexico City, WTO khác UNCTAD. Quan hệ Bắc--Nam vẫn bất công và bất bình đẳng như thế. Quan hệ Nam--Nam cũng chưa phát triển bao nhiêu. Và tuy quả thật hội nghị Cancún thất bại một phần vì sự cương quyết của các nước nghèo, vì sự kháng cự của nhóm G--21 mới ra đời, tập hợp nhiều nước đang phát triển dưới sự «lãnh đạo» của Ấn Độ, Brazil và Trung Quốc, nhưng đây chỉ là một liên minh nhất thời, vì những quyền lợi nhất thời của một số nước sẵn sàng «đi lẻ» nếu giành được lợi điểm nào đó cho riêng mình khi thương thuyết tay đôi, tay ba với các cường quốc. Rất xa hình ảnh lý tưởng của một khối thống nhất những nước nghèo đoàn kết chặt chẽ với nhau. Việt Nam không còn là biểu tượng chống đế quốc, chống tư bản mà đang mong muốn vào WTO, vì đó là con đường tất yếu. Người Mễ vẫn hay hỏi khách từ đâu đến, bằng một câu rất dễ thương : De dónde nos visita ? Bạn đến thăm chúng tôi từ đâu ? Hai chữ Việt Nam khi tôi trả lời không còn gây phản ứng nào ngoài cái gật đầu xã giao, có lẽ nhiều người cũng không thắc mắc đấy là đâu. Phần nào cũng là điều hay, dấu hiệu của một sự bình thường hoá.



Nhưng tuy không có cơ hội tìm hiểu nhiều như lần ở Mexico City, tôi vẫn thoáng cảm nhận vài điều đã thấy, nghe được cách đây mấy chục năm. Tiềm tàng trong câu nói, cái nhìn vẫn là cái oán hờn mất nước của người thổ dân Maya, Tolteca, Olmeca, v.v., đối với người Tây Ban Nha đến xâm chiếm xứ họ, cướp đoạt chém giết và gần như diệt chủng tổ tiên họ, cách đây mấy trăm năm. Cái oán giận của người Mễ thời nay, cần làm ăn với Mỹ nhưng không mơ hồ về sự khinh thị của đám «gringos» trong cách nói, cách cư xử, và nhất là chữ «wetback» người Mỹ dùng để chỉ những người Mễ chân ướt chân ráo sang tìm việc ở xứ Hoa--Kỳ. Khi tôi đi thăm di tích lịch sử Chichén--Itza, hai ngày sau hội nghị Cancún, ông hướng dẫn thuyết minh rất hùng hồn và tự hào về nền văn minh Maya lâu đời, và đùa một câu về cách người Tây Ban Nha đã lừa người Maya như thế nào. Trong câu chuyện với anh nhân viên phụ trách hồ bơi và bãi tắm tại khách sạn về tình hình kinh tế, công ăn việc làm, tôi hỏi : «Thế còn câu Pobre México, tan lejos de Dios.. ... có còn đúng không? «. Anh mỉm cười: «.. Y tan cerca de los Estados Unidos ! * Vẫn còn đúng chứ. Bao lâu mà cái thế giữa mạnh và yếu của chúng ta vẫn thế. Bây giờ lại thêm Irak nữa .. .. À, mà cô biết quá đi chứ, Việt Nam mà.. ..». Anh và tôi cùng gật gù, tủm tỉm. Một thoáng cảm thông không lời, như hôm trước trong một tiệm bán đồ kỷ niệm cho du khách. Giữa những món hàng loè loẹt, thượng vàng hạ cám, một cô nhân viên có dáng dấp và khuôn mặt tiêu biểu của người Maya nhìn đăm đăm đám du khách ăn mặc nhếch nhác, ồn ào, mân mó chỉ chỏ. Ánh mắt cô như vừa nhẫn nhục vừa căm giận, vừa buồn vừa khinh bỉ. Chợt cô quay sang nhìn tôi, không biết cô nghĩ gì mà mắt cô dịu hẳn xuống và cô khẽ mỉm cười.



Có lẽ tôi sống 12 ngày ở Cancún như một buổi hội ngộ nhiều lý thú, không phải chỉ vì trở lại đất Mễ mà còn vì bắt gặp đó đây những nét của .. .. Việt Nam. Như trong các nước châu Mỹ La Tinh khác, người thổ dân Mễ giống người Á Đông : da ngăm đen, tóc và mắt đen, khổ người thấp bé. Ở vùng này lại có nhiều cây cỏ của miền nhiệt đới : dừa, cọ, phi lao, cây bàng, cây hoa sứ, cây chuối, và cả cây đước. Tôi tần ngần nhìn các bồn hoa mười giờ, hoa dừa, hoa mào gà, trông y như ở quê nhà. Hình ảnh Việt Nam lại càng gần gũi hôm tôi vào Ciudad Cancún. Nhiều người đến Cancún nhưng chỉ ở khu khách sạn, không vào thành phố vì «chả có gì đáng xem». Khác với các nơi khác, như Acapulco, Cancún không phải là một làng đánh cá phát triển thành trung tâm du lịch. Cách đây 30 năm, chỗ này không có ai ở, chỉ là rừng đước bạt ngàn và một hòn đảo có hình thù lạ mắt và những bãi cát tuyệt vời. Cancún được xây dựng từ A đến Z trong khuôn khổ một dự án du lịch, theo từng chặng cho tới bây giờ. Một phần rừng đước được phát quang, đường xá, phi trường được xây cất, các hàng quán, khách sạn dần dần mọc lên. Cùng lúc Ciudad Cancún cũng ra đời, đầu tiên là nơi ở của các công nhân xây cất, sau đó ngày càng thu hút dân chúng ở vùng Yucatán đến tìm việc, làm ăn buôn bán.



Khi chiếc xe bus qua cầu vào thành phố, tôi có cảm tưởng đến Sài Gòn. Ơ sao mà chỗ này giống khu Lê Lợi, Bến Thành quá. Cũng những hàng cây to ở giữa con đường rộng, những vỉa hè đông người, cả những căn nhà dưới là cửa hàng, trên là chỗ ở, có bà già ngồi phe phẩy quạt trên lan can, trông cũng quen thuộc lắm. Mấy cái bùng binh cũng có tượng đài quét vôi trắng, một anh hùng cách mạng gì đó vung tay chỉ hướng tới tương lai. Khi đến một quãng đường cây phượng nở đỏ rực thì tôi xuống xe, đi lang bang chụp hình. Những con đường yên tĩnh đàng sau đại lộ chính, những căn nhà nhỏ có cổng sắt, sân gạch, cây kiểng, giông giống khu Tân Định, Đakao. Trong một quán nước dưới cây cổ thụ góc đường, cũng có mấy ông già ngồi hút thuốc và cả một chiếc xe đạp 3 bánh, nửa xích lô nửa ba gác đậu ở đó! Cả cái nóng, cái nắng cũng y như Sài Gòn, đi một lúc là đẫm mồ hôi nên thấy một cái siêu thị tôi mừng quá bước vào. Tôi chịu khó vào siêu thị lắm, vừa mát mẻ vừa được xem hàng hoá để biết giá cả, đời sống địa phương. Siêu thị to và rất nhiều hàng hoá, tôi đi xem một tua. Thịt đắt nhất là phi--lê bò, 80 pesos một ký, và gọi là.. .. Nueva York! Thịt rẻ nhất là chân giò heo, chặt từng miếng nhỏ sạch sẽ, chỉ 11 pesos 1 ký, tha hồ nấu bún bò Huế ! Ớt thì ở đây sẵn lắm, loại nào cũng cay muốn xỉu. Tôi thấy đủ cả gừng, xả, khoai lang, khế, đu đủ, ổi, và kìa, cả giá nữa, chất ụn lên như thế là có nhiều người mua. Trên đảo không thấy quán ăn Á Đông, không biết trong thành phố có không, chẳng lẽ tất cả những thứ này chỉ dùng cho cơm Mễ. Mà biết đâu đấy, cơm Mễ ít ra là có hai món giống Việt Nam, tôi đã được nếm trong bữa ăn .. .. sáng tại khách sạn. Một món y như thịt heo kho, nhưng nạc hơn, cũng vừa mặn vừa ngọt, có nước màu nhưng không có mùi nước mắm, chắc là kho với nước tương. Một món giống thịt heo rim, cũng thái to bản và mỏng. Và tôi mua được cả kẹo vừng, kẹo lạc mang về làm quà.



Cảm giác Mễ giống Việt Nam cũng đượm chuyến đi Chichén--Itza ngày hôm trước. Bán đảo Yucatán là đất Maya, có rất nhiều di tích nổi tiếng. Chichén--Itza cách Cancún 180 cây số, mỗi ngày có khoảng hai, ba nghìn người vào thăm. Nối liền hai nơi là một xa lộ thẳng tắp, xuyên giữa rừng, tuyệt nhiên không thấy gì khác ngoài cây cối um tùm suốt đường đi. Đường rất vắng, dường như chỉ để phục vụ du khách, đưa thẳng đến nơi di tích, không có lối ra, rẽ ngang rẽ dọc chi cả. Hai chiều lên và xuống cũng cách nhau cả một khoảng cách cây cối rậm rạp nên tôi không có cảm giác đi trên xa lộ mà đúng là băng rừng. Gần đến nơi mới thấy một vài làng nhỏ, nghèo xác xơ, rất giống đồng quê Việt nam. Không có ruộng lúa, không có luỹ tre, nhưng cũng vẫn những căn nhà lá tùm hụp trên nền đất sơ sài, mấy đứa trẻ lem luốc nhìn xe đi qua, bên cạnh con chó vàng gầy guộc. Cũng cái quán cóc treo lủng lẳng vài nải chuối và dăm ba xâu bánh kẹo, và ông bán thịt xua ruồi khỏi mấy miếng thịt bèo nhèo, phơi lăn lóc trên cái bàn gỗ nhỏ. Có cả một căn nhà gạch mới xây, diêm dúa giữa mấy túp nhà xiêu vẹo, chắc của ai có con cái đi làm xa gửi tiền về. Cảnh nghèo của Mễ sao cũng gợi nhớ Việt Nam quá.



Khi thực tế bắt kịp những giằng co qua giấy mực


Nói cho cùng, WTO họp hội nghị ở Mễ Tây Cơ cũng có lý. Vì đến đây là chạm trán với những thực tế đằng sau những tài liệu, những mặc cả trong phòng họp. Trong những người biểu tình tại Cancún tuần lễ đó dĩ nhiên không chỉ có các cô các cậu tôi đã phàn nàn ở trên, mà còn phải nhắc đến những người từ thế giới thứ ba : những người Nam Hàn cùng đoàn của ông Lee, và nhất là những nông dân Mễ, đi từ mấy ngày trời mới đến Cancún. Cuộc sống người nông dân Mễ xưa nay vẫn hết sức vất vả, nhưng từ khi có hiệp ước NAFTA giữa Mỹ, Canada và Mễ Tây Cơ thì họ phải chịu một trong những hậu quả tai hại của việc mở cửa thị trường : sản xuất và thu nhập chính của họ là ngô bắp, không địch lại nổi với ngô bắp của Mỹ, rẻ mạt vì sản xuất với qui mô công nghiệp và nhất là với sự tài trợ thả giàn của chính phủ Mỹ, khiến họ đã nghèo càng kiệt quệ hơn. Thật ra đây cũng cũng là một phần của vấn đề cải cách nông nghiệp trong Mễ Tây Cơ, rất nhức nhối từ quá lâu. Nhưng ngoài yếu tố nội tại đó, sự cơ cực của người nông dân Mễ ngày nay cũng là kết quả trực tiếp của chính sách nông nghiệp bất nhẫn của Mỹ và và các nước Châu Âu đối với các nước nghèo. Cũng như các nước châu Phi trồng cây bông (cotton) điêu đứng vì chính sách tài trợ nông nghiệp của Mỹ . Đầu hè năm nay, tổng thống Blaise Campaore nhân dịp đến thăm Thụy Sĩ, đã thân hành trình lên WTO một đề nghị của bốn nước trồng bông -- Benin, Burkina Faso, Chad và Mali -- nhằm giải quyết vấn đề rất cấp bách của họ. Đề nghị này thành một đề tài quan trọng của hội nghị và thái độ ngạo mạn của Mỹ trong lúc bàn về điểm này cũng là một yếu tố dẫn đến thất bại của hội nghị.



Cũng phải nói là bên cạnh ông Lee, bên cạnh các nông dân Mễ, Phi Luật Tân, đến Cancún đòi các nước giàu chấm dứt tài trợ nông nghiệp, cũng có vài nghìn nông dân Mỹ như ông Leon Crump, từ bang Nam Carolina, đến để đòi.. .. Mỹ không nhượng bộ, không cắt tài trợ của ông ta! «Đây là chiến tranh giữa giàu và nghèo. Và ở Mỹ không ai nghèo hơn nông dân», ông Crump nói. Nhưng nếu biết rằng trong năm 2000, Mỹ đã tài trợ 3,81 tỷ đô--la chỉ riêng cho kỹ nghệ bông, tức là đổ đồng 100 000 đô--la cho mỗi người trong con số khoảng 25 000 người sản xuất, thì so với anh nông dân Mễ kiếm mỗi ngày chưa tới 50 pesos (4,5 đô--la), khái niệm giàu nghèo thật là co giãn! Và những Leon Crump, José Bové chính là cái cớ rất thuận tiện để Mỹ và Liên Hiệp châu Âu vin vào đó mà khăng khăng không nhượng bộ về nông nghiệp ở WTO.



Cộng thêm việc Mỹ và Liên Hiệp châu Âu đã thế vẫn đòi hỏi bắt đầu thương thuyết trên các «đề tài Singapore» là điều các nước nghèo nhất định bác, thì sự thất bại là đương nhiên. Ngay cả trước khi đi Cancún, điều ấy đã rõ ràng: làm sao chỉ trong 5 ngày mà đạt được sự đồng thuận khi đã bất đồng sâu sắc và gay gắt trong cả hai năm?



Thế giới càng bất công, bất quân bình, các cường quốc càng bất chấp các nước nghèo thì sự uất ức càng lên cao, càng là mầm mống cho những hành động kinh khủng, không nhất thiết chỉ thiệt thòi cho bản thân mình như quyết định của ông Lee. Cái chết của ông Lee là tiếng chuông báo động, nhưng bao giờ các nước giàu mới chịu nghe, thấy ?



Đại văn hào Gabriel García Márquez có viết một cuốn sách rất hay tựa là Crónica de una muerte anunciada, Ghi lại diễn tiến của một cái chết đã được loan báo. Quá trình dẫn đến Cancún có thể gọi là Crónica de un fracaso anunciado, diễn tiến của một sự thất bại có thể được tiên đoán. Con đường từ Cancún đến Hồng Kông, nơi sẽ tổ chức hội nghị sắp đến, sẽ viết thành chương gì đây trong truyện dài của WTO, lại hai năm dài giằng co để không đi đến đâu hay may mắn hơn, lạc quan hơn, một bước đầu đi đến tỉnh ngộ, thiện chí và xây dựng, một diễn tiến tối cần thiết nhưng chưa ai dám hi vọng sẽ thành hiện thực, một Crónica de una salvación inesperada ?



26.9.2003







* Tội nghiệp thay Mễ Tây Cơ, quá xa Chúa và quá gần nước Mỹ.









Đỗ Tuyết Khanh