Diễn Đàn: Lương Tâm & Lương Tri/Tưởng nhớ BOUDA








******************
Tưởng nhớ BOUDA
**********************************


N.N.G.



Như chúng tôi đã đưa tin trong số 136, Georges Boudarel đã từ trần ngày 26.12.2003. Lễ hoả táng nhà sử học đã cử hành tại nghĩa trang Père Lachaise (Paris) ngày 20.12. Ngày 1.2.2004, sau lễ cầu siêu tại Phật đường Khuông Việt (Orsay), bạn bè của anh đã quây quần gợi lại kỉ niệm về người bạn quá cố. Hai buổi lễ cũng là dịp mà nhiều người trong các bạn của « Bouda » lần đầu tiên gặp nhau và làm quen với nhau.



Ông Aimé Palisse, tuổi 80 tráng kiện, có lẽ là người bạn thâm niên nhất : hai người gặp nhau ở Sài Gòn năm 1947 khi Bouda, giáo sư triết học đặt chân tới Việt Nam, dạy ở trường Marie Curie. Ba năm sau, Boudarel ra chiến khu, Palisse thì bị tù vì chống chiến tranh, ra tù thì bị trục xuất về Pháp. Từ đó, trong suốt nửa thế kỉ, họ vẫn giữ liên lạc với nhau. Bên cạnh những người bạn thâm niên như Palisse, chúng tôi còn gặp những bạn trẻ Việt Nam dưới tuổi 30, hay một nhà vật lí học đi 200 km về đây, tuy chưa hề gặp Boudarel bao giờ. Xa hơn, là vợ chồng anh bạn từ Đức sang, và xa hơn nữa, người bạn đã hoãn hai ngày chuyến bay trở về Mexico để có thể thắp nén hương trên bàn thờ Bouda. Cũng trên bàn thờ ấy, chúng tôi đã thắp hương thay mặt cho các nhà thơ và nhà văn Lê Đạt, Dương Tường, Châu Diên.. .. (Hà Nội). Heinrich Schütte, nhà nghiên cứu khoa học xã hội, vừa từ Hà Nội bay về kịp buổi lễ cầu siêu, cũng cho biết, trong cuộc hội thảo tổ chức đầu tháng 1.2004 về những người Đức đã tham gia kháng chiến Việt Nam, tên tuổi của G. Boudarel đã được những người bạn kháng chiến của ông nhắc đến với tất cả sự quý mến trân trọng chen lẫn ngậm ngùi.



Đông đảo nhất có lẽ là những đồng nghiệp và sinh viên của Bouda ở Trường đại học Paris VII và những người đã hoạt động cùng với ông trong phong trào đoàn kết với Việt Nam trong (và sau) cuộc chiến tranh chống Mĩ. Song cũng không thể quên những người chỉ quen anh từ sau khi phe cực hữu Pháp mở chiến dịch vu khống Boudarel « tội phạm chiến tranh », thi hành trên các phương tiện truyền thông bản án « tử hình vắng mặt » mà chính quyền thực dân Pháp đã tuyên xử cách đây 50 năm, khi anh ra chiến khu Đ, bản án mà năm 1967, chính quyền De Gaulle đã mặc nhiên huỷ bỏ bằng một đạo luật « ân xá » chung về hai cuộc chiến tranh Đông Dương và Algérie. Điển hình cho những người bạn « mới » này là mục sư J. C. Serex, người Thuỵ Sĩ, ở cùng một chung cư với Bouda nhưng không hề quen biết anh. Cho đến năm 1991, khi chiến dịch hận thù và vu khống kia nổ ra, cửa kính trong khu chung cư bị bắn vỡ, tường nhà bôi bác những khẩu hiệu « Boudarel sát nhân ». Mục sư Serex đã đi tìm « sát nhân » và chỉ gặp một con người chân thực, nhân hậu. Từ đó, hai người kết bạn. Mục sư Serex, cùng với những người bạn Pháp, Mĩ, Việt Nam trong hội « Les Amis de Bouda » (do cố giáo sư Laurent Schwartz làm chủ tịch danh dự, bà Janine Gillon làm chủ tịch), trong suốt 5 năm qua, đã tận tình chăm sóc Boudarel, ở bệnh viện cũng như ở nhà dưỡng lão.



Cách đây hơn hai năm, để mừng thọ Bouda 75 tuổi, tôi đã có dịp viết bài về anh (Diễn Đàn số 112, tháng 11.2001) cốt để bày tỏ tình cảm với người bạn già trước khi tôi lên đường về nước, chừng nào tôi ngại rằng ở tuổi của anh, nhất là với sức khoẻ suy yếu, bất cứ lần gặp nào cũng có thể là lần chót, lời nào cũng có thể là lời cuối. Khi tôi trở qua, anh mỉm cười nói với tôi : « Mày tế sống tao ». Ngày nay, Bouda đã sang thế giới bên kia, tôi xin nhường lời cho bạn bè. Dưới đây, xin trích những đoạn thư nhận được từ bạn bè bốn phưong :



Daniel Hémery, nhà sử học, là đồng nghiệp của GB trong suốt 30 năm, và cùng hoạt động trong Mặt trận Đoàn kết với Đông Dương (FSI), bức xúc nhớ lại « khổ nạn » cuối đời, « nỗi oan khổ vô lý » mà Bouda trải qua, và « sự bất lực » của bạn bè trước bi kịch ấy.



« Georges Boudarel là một trong những người tiên phong ở phương Tây nghiên cứu về lịch sử Việt Nam. Tiên phong không những vì ông thông thạo tiếng Việt, thông hiểu văn hoá Việt Nam, mà do hành trình độc đáo và ghê gớm của mình, ông đã rút tỉa ra những đức tính quý hiếm : thích tiếp cận một cách thực tế, khiêm nhường mà vẫn biết phẫn nộ trước sự kiện, lương tri kết hợp với sự thông thái, say mê vô độ trong sự học hỏi và tìm tòi tư liệu. Có lẽ điều tôi khâm phục nhất ở con người ấy là sự nổi loạn chống lại những giáo điều. Các công trình và biên khảo của Boudarel sẽ còn đóng vai trò nền tảng trong một thời gian dài. Cố nhiên, bên cạnh những đức tính ấy, có những khuyết tật, vụng về, song không đáng kể. Trong 'cộng đồng' giới sử học, Bouda quả là khác đời. Không 'cố ý', nhưng thật là khác đời. Bởi vì, xét cho cùng, Bouda là một mảng của bức tranh lịch sử tập thể ác nghiệt. »



« Georges không phải chỉ là một bộ óc bác học, một giáo sư xuất sắc, luôn luôn tìm tòi, đọc sách bốn phương tám hướng, học hỏi không ngừng nghỉ để giảng dạy, thực sự chiến đấu cho một đường hướng giáo dục mà chúng tôi muốn thực hiện. Bouda thực sự là một militant, đặt niềm tin vào một nước Việt Nam dân chủ, giải thoát khỏi bi kịch : lúc đầu thời kì « đổi mới » ông thường nói với tôi, làm sao « đẩy được cỗ xe ra khỏi hố lầy.. .. ». Bouda đúng là công dân của hai Tổ quốc. Sở thích của ông là thảo luận, cười cợt, kể chuyện đùa. Một người đồng chí ».



Một nhà sử học khác ở Canada, Vĩnh Sính, tác giả những công trình giá trị về Phan Bội Châu, viết cho chúng tôi : « Những công trình nghiên cứu của Boudarel về Phan Bội Châu (xuất bản cuối thập niên 1960 ---- đầu thập niên 1970 ?) tôi đọc khá kỹ. Phải nói là rất công phu. Bản dịch Phan Bội Châu Niên Biểu của anh sang tiếng Pháp, với phần chú thích tường tận và 'đầy tâm huyết' (vậy mới hay mới lạ chứ !), đã là mẫu mực cho các công trình nghiên cứu về PBC của các nhà nghiên cứu về PBC người VN ở Sài Gòn cũng như ở Hà Nội (hồi đó đất nước còn phân chia). Điều đáng tiếc là cho đến nay hình như vẫn chưa có bản dịch PBCNB nào sang chữ quốc ngữ đạt được chuẩn mực đàng hoàng như công trình của anh Boudarel. Nói chung, ngay cả trong nghiên cứu về PBC (một nhân vật lịch sử của VN ta đấy) ta vẫn muốn 'đi tắt đón đầu' ! Qua công trình nghiên cứu của Boudarel về PBC, tôi cảm nhận được sự ham thích tìm hiểu và tình cảm quý mến của anh đối văn hoá và con người Việt Nam. Nội chuyện đó không cũng đã là rất đáng quý «.



« (.. ..) Thời gian cứ thế trôi nhanh và tôi vẫn chưa có dịp gặp anh. Đầu thập niên 1990 thì phải, hồi đó sách vở trong nước vẫn còn trốn tránh, không muốn nhắc đến tên anh Boudarel. Tôi còn nhớ rõ là lúc đó tôi có viết bài gì đó để đăng trên 1 tập san trong nước và trong bài này tôi có nhắc đến công trình nghiên cứu sáng giá của Boudarel. Anh biên tập tập san có nhắc tôi hoàn cảnh tế nhị của anh Boudarel đối với một số nguời trong nước. Tôi nói là tôi xin được vô tư trong chuyện này, và anh biên tập thông cảm. Khi bài đó in ra, tôi thầm nghĩ là trong khả năng vô cùng hạn chế của tôi, tôi đã nói lên được chút ít tình cảm của tôi đối với anh và trong nỗ lực chung của những người quen biết muốn phục hồi danh dự cho anh.»



Chị K. Ở Thuỵ Sĩ, chỉ gặp Bouda một lần : « Trong những năm cuối, vừa bệnh tật vừa phải đối chọi với đủ thứ vấn đề căng thẳng, ít ra ông cũng đã được an ủi rất nhiều qua sự quây quần, bảo bọc của bạn bè. Các anh chị lập ra cả một hội để lo cho ông. K. vẫn nhớ mãi cái cười hồn nhiên của ông, bữa ăn tối tại nhà anh, khi ông bị hỏi trêu về cái tên Việt của ông [Đi kháng chiến, Bouda lấy tên là Đại Đồng, nhưng anh phát âm thành.. .. đái đồng]. Và vẫn giữ cuốn sách khổng lồ bằng tiếng romanche, tìm xin được để chụp vài trang mẫu gửi sang cho ông xem. Nước Thuỵ Sĩ đã bé tí, ít dân, tiếng romanche lại gần tuyệt chủng, chỉ còn dùng trong một vùng nhỏ, núi cao xa xôi. Ngoài Thuỵ Sĩ, có ai biết, thế mà Bouda nhắc đến, thắc mắc, muốn xem nó ra sao. Sự hiếu kì của một trí thức luôn mở rộng đối với thế giới và con người chung quanh.»



« Cầu mong Bouda đã bay bổng đến thế giới Đại Đồng ông hằng mong ước «.

Anh H. ở Toulouse viết cho chúng tôi : « Riêng tôi có nhiều kỉ niệm với ông Boudarel. Lúc ông là giáo sư Pháp văn tại trường Marie Curie Sài Gòn. Ông giúp anh em học sinh kháng chiến trong thành phố rất nhiệt tình. Ra vùng giải phóng, ông đã gởi cho anh em học sinh Sàigòn một bức thư kêu gọi, mà chúng tôi phổ biến trong giới học sinh hồi ấy. Điều này tôi có nhắc lại với ông khi ông nằm an dưỡng tại Toulouse. Vì vậy, Bouda đối với riêng tôi không chỉ là người bạn, mà còn là người thầy.»



Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn, hiện ở Moskva, nhớ lại : « Năm 1960, tôi có một giáo trình ở Khoa Ngữ văn Đại học tổng hợp Hà Nội, về các vấn đề đang tranh luận trong ngữ pháp tiếng Việt. Anh G. B. Đều đặn đạp xe đạp đến nghe, bất kể những ngày mưa to gió lớn hay những ngày cực nắng nóng. Anh hay hỏi về các thuật ngữ chuyên môn giới ngữ học mới dịch ra tiếng Việt. Chúng tôi trở thành quen nhau. Và sau đó là bao nhiêu lần cùng đi cùng về trên các nẻo đường Láng -- Cầu Giấy -- Kim Mã (..) Anh là một con người luôn luôn quan tâm đến cái mới, luôn luôn đứng về phía cái đúng ; một người bạn thẳng thắn, cởi mở.»



Từ California, trên đường về nước, nghe tin Boudarel từ trần, nhà văn Nguyên Ngọc viết : « G. Boudarel đã sống một cuộc đời rất gian nan, nhiều sóng gió, nhưng thật đẹp, luôn là một con người trung thực đến cùng và là một chiến sĩ của tự do.»



N.N.G.






*************************************
Thầy Georges
***********************


Agathe Larcher



(Institut d’Asie Orientale, Lyon)



Mùa hè 1988, thi đỗ tú tài xong, tôi ghi tên vào năm thứ nhất ban Sử trường đại học Paris VII, tôi sẽ học suốt các cấp đại học ở đây cho đến 2000 là năm tôi bảo vệ luận án tiến sĩ. Chính tại đây, ngay từ năm đầu, tôi may mắn được học Georges Boudarel, từ ấy quan hệ thầy trò trở thành quan hệ bè bạn. Năm thứ nhất, giáo sư Lịch sử Thế kỉ XX là ông Robert Bonnaud, còn G. Boudarel dạy chúng tôi thực tập. Năm dự bị thứ nhì (1990--91), tôi gặp lại ông khi tôi chọn tín chỉ « Chiến tranh và Xã hội » do ông phụ trách.



Trong đời học sinh, sinh viên, có những ông thầy để lại dấu ấn sâu đậm hơn những người khác. Georges Boudarel là một ông thầy để lại dấu ấn rõ nét nhất đối với tôi. Qua những bài giảng của ông, tôi học được nhiều nhất, xa nhất, không phải chỉ học làm sử, mà học cả làm người.



Hồi đó mấy đứa sinh viên chúng tôi họp thành một hạt nhân, sau mỗi giờ học nán lại trong lớp thảo luận tràng giang bất tận, nhiều khi kéo ông ra ngồi quán cà phê, hay đến quán Maubert ăn tô phở. Tình cảm tôi nói ở trên, tôi biết không chỉ riêng tôi, mà của mọi người trong nhóm. Đó không phải là sự ngưỡng mộ, bởi vì Boudarel không phải là một thứ giáo chủ, hay một diễn viên có tài mê hoặc sinh viên. Tôi kính trọng ông ở tinh thần tự do tư tưởng toát ra trong các bài giảng, ở mối quan hệ giản dị mà sâu sắc mà ông tạo ra đối với sinh viên, đồng nghiệp, bạn bè.



Nghe Boudarel giảng bài hứng thú vô cùng. Tôi nói như vậy là nói thực chứ không phải vì bồi hồi mà xúc động nói quá. Hứng thú vì bài giảng của ông chứa đựng rất nhiều thông tin, đưa ra những đối sánh, những gợi ý suy nghĩ, tứ tung dồn dập theo nhịp điệu của một dòng tư duy ngổn ngang, cuồn cuộn, bay bổng. Ngoại hình thầy Georges của chúng tôi chẳng có gì phấn khởi : lưng thì còng còng, tứ thời đóng bộ quần áo màu xám và chiếc áo mưa bất hủ, vai đeo cái túi nặng trĩu những photocopie và sách báo. Giọng thầy trầm khàn, chậm chạp như dáng đi, với cái « ac--xăng » đặc biệt của vùng Saint Etienne. Thầy nói chậm nhưng lưu loát, ngôn ngữ đầy hình ảnh và dí dỏm khiến cho sinh viên rất khoái nghe, câu chuyện luôn luôn điểm xuyết bằng những nhận xét hóm hỉnh, nụ cười rạng rỡ, khiến người nghe bất ngờ, thích thú.



Niên học 90--91, giáo trình của Boudarel chia làm hai phần : học kì I nói về các nhà chiến lược và các nhà lập thuyết về bạo lực, học kì II nói về những lí giải về bạo lực. Giáo trình của thầy là cả một cuốn sách mở, mở ra những cật vấn về triết học, đạo lí, tư tưởng. Những câu hỏi có tính chất nghề nghiệp, và ở thời điểm năm 1991, tôi sẽ hiểu đó cũng là những cật vấn cá nhân.



Tôi yêu quý thầy Boudarel vì ở ông, tôi hiểu được sự đa nghĩa của con người, sự phức tạp của mỗi chọn lựa vượt ra ngoài khuôn phép của thành kiến và chuẩn tắc của thời đại, sự mảnh mai, mòn mỏi cũng như mạnh mẽ của con người. Mở đầu giáo trình về Lawrence Arabia, thầy cung cấp cho chúng những chìa khoá để giải mã những vấn đề lịch sử mà ông đặc biệt quan tâm. Điệp viên của Đế quốc Anh, lại là người mê say đất nước Arabia, Lawrence vừa là nhà quân sự vừa là nhà lí luận quân sự, nhà ngoại giao và nhà văn, khổ hạnh mà khổ dâm, nhân vật này, ngay từ lúc sinh thời, đã trở thành đối tượng tranh luận, phức tạp, độc đáo, vượt ra khỏi mọi khuôn khổ. Đối với Boudarel, Lawrence là « hiệp sĩ cuối cùng của Thời hiện đại », tâm hồn còn luyến tiếc mơ tưởng Thời Trung cổ và những chiến công cá nhân, sống ở thời điểm mà cuộc chiến tranh công nghiệp 1914 kết liễu tâm lí hiệp sĩ, thay thế nó bằng một tâm lí hoàn toàn trái ngược. Boudarel chú tâm tới chiều kích nhân học của chiến tranh mà Lawrence đã xử lí khá tinh tế, và đã trở thành một chuyên gia của « chiến lược gián tiếp ». Cách tiếp cận này mở ra những chân trời mới, giúp chúng tôi hiểu được tiến trình của các tư tưởng quân sự, ý nghĩa và cả sự vô nghĩa của các cuộc giao tranh, tâm lí học của bạo lực, óc kỉ luật phục tùng và tinh thần bất tuân, cái giá phải trả của mỗi cuộc chiến tranh và vai trò của nó trong lịch sử.



Khi « vụ Boudarel » nổ ra, có lẽ học trò của thầy Georges có điều kiện để hiểu hơn người khác tất cả sự phức tạp trong lập trường và thế đứng quá khứ của ông. Chúng tôi không hoàn toàn tán thành, nhưng biết đặt chúng trong bối cảnh không gian và thời gian, không phán đoán theo lối suy luận đơn thuần trắng đen hay hẹp hòi cố chấp, mà phán đoán với « khoảng lùi cần thiết », theo phương cách mà ông đã dạy cho chúng tôi, và chính ông đã áp dụng một cách không khoan nhượng cho bản thân mình để xét đoán những chọn lựa và hành động của mình trong quá khứ. Và như thế, những bài giảng của Boudarel, đối với tôi, mang thêm một chiều kích mới. Tôi cảm nhận ở đó sự dằn vặt nội tâm của một con người đầy ám ảnh của những câu hỏi chưa có lời đáp. Tôi là một trong những người đầu tiên kí tên vào các bản kiến nghị ủng hộ của Uỷ ban bảo vệ Boudarel, mà không hề hối tiếc. Dường như từ ấy quan hệ thầy trò của chúng tôi trở thành sự tin cậy hai chiều, đạt tới sự đồng cảm tương tác càng sâu đậm hơn trong những năm tháng tiếp theo, khi tôi bắt đầu nghiên cứu về lịch sử Việt Nam. Lúc đó, các nhà báo đột nhập vào trường, xục xạo các hành lang để tìm ra lớp học của chúng tôi. Theo yêu cầu của thầy, tôi đánh lạc hướng các nhà báo, chỉ cho họ những hành lang và số phòng tưởng tượng, và thông báo cho bạn bè địa chỉ chính xác của từng buổi một, vì tất nhiên, lớp sử của Boudarel đã trở thành một lớp học lưu động. Trong suốt mấy tháng, không có nhà báo nào tìm ra lớp của chúng tôi, còn các bạn tôi vẫn theo học đông đủ các giờ giảng, không thiếu một ai. Với sinh viên, Georges không bao giờ giấu giếm quá khứ của ông, và ông cũng không hề, gián tiếp hay trực tiếp, yêu cầu sinh viên phải ủng hộ mình. Ông tôn trọng tự do ý kiến của sinh viên cũng như chúng tôi tôn trọng tự do ý kiến của ông.



Là con người yêu nghề, trung thực và độ lượng, Georges Boudarel làm trọn công việc của một nhà giáo, và thực sự đã làm hơn thế rất nhiều.



Lyon, 24 janvier 2004



Agathe Larcher









N.N.G. & Agathe Larcher