Cộng đồng người Việt hải ngoại /Việt Nam và Cộng Đồng Hải Ngoại - 10 năm trước mặt














Việt Nam và Cộng Đồng Hải Ngoại - 10 năm trước mặt
=================================


Trần Hữu Nhân

Hội Chuyên Gia Việt Nam



Đại Hội Thanh Niên Sinh Viên Việt Nam Thế Giới kỳ III tổ chức ngày 11-13 tháng 7, 2003 tại San Diego, California, Hoa Kỳ.



Đây là bài thuyết trình (keynote speech) của anh Trần Hữu Nhân, Tổng Thư Ký Hội Chuyên Gia Việt Nam trong Đại Hội Thanh Niên Sinh Viên Việt Nam Thế Giới kỳ III, 11-13 tháng 7, 2003 tổ chức tại San Diego, California, Hoa Kỳ.



Cộng Đồng Hải Ngoại
---------------------


Kể từ năm 1975 khi người Việt bỏ nước ra đi, trong suốt 28 năm qua số người Việt định cư tại nước ngoài, luôn cả giới trẻ sinh ra tại hải ngoại đã lên tới con số hơn 2 triệu người ở khắp các quốc gia trên thế giới. Trừ các cộng đồng người Việt tại các quốc gia Đông Âu, Nga sô còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, Canada, Úc, các nước Tây Âu đã vượt qua những khó khăn ban đầu để hội nhập vào đời sống mới, nắm bắt lấy các cơ hội để vươn lên. Tại các thành phố có đông người Việt cư ngụ, nếu bạn có đến các khu vực kinh doanh của người Việt sẽ thấy được sức sống, thấy được sự trù phú của cộng đồng người Việt ở nơi đó. Giới truyền thông phát triển mạnh về số lượng với phẩm chất đa dạng, từ báo ngày, báo tuần, báo tháng, đặc san, tập san, cho đến truyền thanh (radio) hàng tuần, hàng ngày, 24/7, truyền hình (TV), web site. Học sinh sinh viên VN đạt được nhiều thành quả tốt đẹp trong học đường. Số người Việt tốt nghiệp đại học với các bằng cấp Cử Nhân, Master, Tiến sĩ lên đến con số 300,000 chuyên viên, chuyên gia Việt Nam làm việc và đóng góp vào trong các ngành kỹ nghệ tân tiến của thế giới. Nhiều người Việt đang đóng vai trò quan trọng trong các cơ quan chính quyền bản xứ. Trong một thời gian ngắn ( ¼ thế kỷ) đó là một thành quả đáng kể đối với người bản xứ.

Dĩ nhiên là bên cạnh đó cũng có những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Tuy nhiên nhìn chung đối với các quốc gia bản xứ, cộng đồng Việt Nam là một cộng đồng dân thiểu số có nhiều đóng góp tốt cho quốc gia họ. CĐVN hải ngoại 10 năm tới sẽ ra sao? Trước khi tiếp tục, tôi cần chia sẻ với các anh chị một cách nhìn khác về cộng đồng, một cách nhìn khác về sự tham gia vào cộng đồng.

Nếu lấy mô hình mạng lưới (network) như Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường nơi đây thì cộng đồng Việt Nam cũng là một mạng lưới của người Việt có liên hệ với nhau qua các dịch vụ kinh doanh, xã hội, qua các hội đoàn ái hữu, cộng đồng, sinh viên, chính trị, chuyên môn, qua các sinh hoạt văn hóa, truyền thống, giáo dục, v.v... Mạng lưới Cộng đồng này có thể có một tiếng nói đại diện tổng quát, như trong trường hợp của một Ban Đại Diện Cộng Đồng, hay có thể có nhiều tiếng nói đại diện cho những quyền lợi khác biệt (area of interest) trong cộng đồng.

[GHI CHÚ THÊM:] Mô hình cho thấy CĐVN rất sinh động. Nó có thể phát triển, nỡ rộng ra (cho thêm node, thêm link, thêm activities). Nó có thể teo lại (bớt note, bớt link, bớt activities, bớt tham dự viên). Nói một cách khác, cộng đồng phát triển giống như quy luật thị trường, quy luật cung cầu. Nếu có nhu cầu thì sẽ có thêm cơ sở kinh doanh, thêm hội đoàn.

Nếu nhu cầu bớt đi thì các cơ sở, hội đoàn sẽ thu nhỏ lại. Vì mang bản chất của một network, cộng đồng không có ai chỉ đạo. Không có ai có thể ra lệnh là phải thêm kinh doanh này, hội đoàn kia. Không ai có thể ra lệnh các cơ sở kinh doanh, hội đoàn làm chuyện này chuyện kia. Hội đoàn nào mạnh, tích cực, có nhiều mối liên hệ (links, connections) với các nhóm khác thì có thể ảnh hưởng lên network này. Muốn sự vận hành, sinh hoạt trong mạng lưới cộng đồng được cân bằng, hay muốn có sự điều hướng thì cần phải có sự đồng thuận và phối hợp của một ban đại diện được nhìn nhận bởi đa số.

Nếu dựa vào mô hình trên, các anh chị sẽ thấy sự tham gia vào cộng đồng Việt Nam có nhiều khía cạnh:



Trong vai trò Người tiêu thụ (consumer): ra tiệm mua một món hàng; vào ăn tiệm Việt Nam, mua sách báo đọc, mua nhạc nghe, v.v... được phục vụ một dịch vụ y tế, di trú, xã hội, giáo dục (dắt con đi học tiếng Việt), v.v....

Trong vai trò Khán giả, tham dự viên (audience, participant): đến tham dự một buổi văn nghệ của HSVVN tổ chức, dự Lễ Giỗ Tổ, Lễ Hai Bà Trưng, đến dự một workshop của HCG, đến nghe thuyết trình về Trống Đồng của Hội Văn Hóa, v.v...

Trong vai trò Tổ Chức, Hoạt động, người sinh hoạt (organizers, providers, producers, activist): tham gia vào một hội đoàn (xã hội, giáo dục, văn hóa), sáng lập một hội đoàn, tham gia vào ban đại diện cộng đồng, mở một kinh doanh, v.v...



Cả hai vai trò người tiêu thụ và khán giả đều có tính cách thụ động (passive). Phần lớn mọi người đều tham gia vào cộng đồng VN trong hai vai trò này. Trong khi đó vai trò tổ chức, người sinh hoạt thì tích cực và chủ động hơn. Sự tham dự của các mọi người trong vai trò này cũng ít hơn.

Vì là một mạng lưới, Cộng đồng Việt Nam có mạnh hay không là tùy vào sự tham gia của người Việt trong ba vai trò nói trên, tùy thuộc vào sức mạnh của mỗi phần tử (node), và tùy thuộc vào mối liên hệ (connection) giữa các phần tử trong mô hình này (các hội đoàn, những người Việt). Chúng ta hãy xem 3 vai trò tham gia nói trên tác động như thế nào vào cộng đồng trong những năm tới.

Thử tưởng tượng 10 năm, 20 năm nữa, con các anh chị không biết tiếng Việt (vì cha mẹ không dạy, không dắt con đến trường), chúng không mê đồ ăn Việt Nam nữa. Tiệm ăn ít khách đi. Chúng không biết tiếng Việt. Số người mua sách, báo, nhạc không còn nữa. Tiệm sách báo dẹp tiệm.

Số người tiêu thụ ra vào khu chợ Việt Nam ít đi. Little Saigon dần dà trở thành Little Hongkong. Đó là hậu quả của việc tham gia vào cộng đồng VN trong vai trò tiêu thụ không còn nữa. Chúng ta đừng nghĩ là việc này không thể xảy ra, vì chúng ta thấy nó đã xảy ra với Little Tokyo ở San Jose cho cộng đồng người Mỹ gốc Nhật hiện nay rất èo uột so với những thập niên trước.

Thử tưởng tượng năm tới, 2 năm nữa, 5 năm nữa, Hội Cao Niên tổ chức ngày Quốc Tổ Hùng Vương mà không mấy ai tới dự. Hội Văn Hóa tổ chức một seminar nói về Trống Đồng Ngọc Lũ cho giới trẻ và chỉ có lèo tèo dăm ba người. Đại Nhạc Hội VN càng ngày càng ít người tham dự. Với đà đó các sinh hoạt văn hóa, giáo dục, xã hội, văn nghệ sẽ giảm xuống và mất hẳn đi. Đó là hậu quả của việc tham gia vào cộng đồng VN trong vai trò tham dự viên, khán giả không còn nữa. Chúng ta đã thấy việc này đang xảy ra trong một số sinh hoạt văn hóa.

Thử tưởng tượng 5, 10 năm tới, sinh viên VN trong các trường đại học không thấy nhu cầu lập HSVVN nữa, thay vào đó tham gia vào các fratenity trong trường vui hơn. Tầng lớp chủ động trong các hội đoàn với tuổi đời chồng chất mà lại không có lớp trẻ tiếp nối, các hội đoàn này sẽ dần dà tan biến theo thời gian. Giới trẻ không thích làm các dịch vụ kinh doanh VN, thích làm giới chuyên gia hơn. Nếu không có ai cung cấp dịch vụ, tổ chức các sinh hoạt thì người Việt sẽ không còn gì để sinh hoạt. Nếu số tham dự viên tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng không có, số người tiêu thụ không còn mà người tổ chức, mà sinh hoạt cũng không có thì cộng đồng Việt Nam sẽ không còn hiện hữu nữa.

Tôi không nghĩ là viễn ảnh bi quan nói trên xảy ra trong 10 năm nữa, nhưng nếu lớp người trẻ trong cộng đồng ngày càng bớt tham gia vào cộng đồng trong vai trò người tiêu thụ, hay trong vai trò khán giả, và nhất là trong vai trò (chủ động) tổ chức thì CĐVN sẽ ngày càng yếu đi và có thể không còn nữa. Và ai biết được vài thập niên nữa trên xa lộ sẽ không còn bảng chỉ đường vào "Little Saigon" nữa.

Ngược lại nếu giới trẻ tham gia vào cộng đồng trong cả ba khía cạnh: tiêu thụ, khán giả, và tích cực tham gia vào các hội đoàn thì CĐVN vẫn tồn tại và mạnh hơn hoặc biến đổi (nếu có) theo chiều hướng của lớp người trẻ chủ động.

Khi chúng tôi làm một cuộc thăm dò nhanh với các hội viên HCGVN thì 100% đều cho rằng giới trẻ phải tham gia vào cộng đồng (community involvement). Điều này khẳng định thêm sự quan trọng của việc tham gia vào cộng đồng của giới trẻ. Một câu hỏi dẫn đến kế tiếp là: những lãnh vực nào cần được phát triển trong thời gian tới?

Cũng theo cuộc thăm dò vừa đề cập đến, thì phần lớn cho rằng cộng đồng Việt Nam phải tiếp tục phát triển mở rộng những lãnh vực sau đây:



tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền tại VN. Điều này không có gì lạ vì CĐVN căn bản là một cộng đồng tỵ nạn chính trị

tham gia vào sinh hoạt chính trị dòng chính (mainstream politics)

Gìn giữ, phát huy văn hóa, truyền thống VN



Những lãnh vực này vừa giúp cộng đồng phát triển toàn diện, mạnh mẽ thêm, vừa gia tăng sự hội nhập vào dòng chính lại vừa duy trì bản sắc Việt Nam và đồng thời tạo thêm sức mạnh để góp phần vào việc xây dựng Việt Nam.



Chiều nay sẽ có một workshop bàn về đề tài "Các lãnh vực phát triển cộng đồng trong 10 năm tới". Chúng ta sẽ thảo luận với nhau nhiều hơn về việc này trong workshop đó.



Nhìn về quê hương Việt Nam bên kia bờ Thái Bình Dương chúng ta thấy gì ?

Việt Nam
--------


Trong thập niên vừa qua, Việt Nam có một số tiến triển đáng kể theo sự ghi nhận của các định chế tài chánh quốc tế. Tỷ lệ phát triển (GDP growth) hàng năm từ 6% đến 8%. Thu nhập bình quân mỗi đầu người (GNI per capita) hiện nay là US0. Tỷ lệ nghèo đói giảm xuống từ 58% cách đây 10 năm xuống còn 32%. Tỷ lệ trẻ em cắp sách đến trường (tiểu học) vào khoảng 91% (vùng quê) và 96% (thành thị). Số người có nước sạch để dùng: 60-70%. Và còn nhiều con số thống kê khác cho thấy có sự tăng trưởng trong nhiều lãnh vực.

Những con số thống kê này giúp cho chúng ta thấy Việt Nam ngày nay khác với Việt Nam 10 năm trước đây. Không ai phủ nhận là Việt Nam có tăng trưởng về kinh tế. Các bạn có về thăm Việt Nam, đến các thành phố lớn Sài Gòn, Hà Nội sẽ thấy ngay sự thay đổi đó. Mặc dầu ở Sài Gòn, bên cạnh Q1, Q3 với bề mặt khang trang, tráng lệ, Q4, Q8, Q.Tân Bình vẫn còn đầy dân nghèo khổ ở nhà ổ chuột ven sông với mức sống rất thấp.

Chúng ta đừng quên là dân số ở thành thị chỉ chiếm có 25% tổng số dân VN. Dân số VN hiện nay vào khoảng 80 triệu, tức là có 60 triệu dân sống ở vùng nông thôn với mức sống thấp hơn hẵn mức sống ở thành thị. Cách biệt giàu nghèo ngày càng tăng giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn.

Nhìn vào số người có mức sống trù phú ở thành thị, chúng ta cũng cần đặt câu hỏi là bao nhiêu phần trăm dân sống nhờ vào số tiền thân nhân ở hải ngoại gửi về hàng năm là 2 tỉ đô la (1/20 GDP của VN); bao nhiêu phần trăm là thành phần đảng viên tư bản đỏ với những đặc quyền, đặc lợi của giới cầm quyền để thấy chính xác sự phát triển không đồng đều.

Nếu tóm lại tình hình kinh tế thì chúng ta thấy Việt Nam vẫn NGHÈO! Trong hơn 200 nền kinh tế trên thế giới được chia làm 4 nhóm: giàu (GNI per capita > 00), trung bình cao (00-00), trung bình thấp (0-00), và nghèo (< 0), thì Việt Nam vẫn nằm trong nhóm nghèo gồm 64 nước.

Trong tâm tư của mọi người Việt Nam trong hay ngoài nước, ai ai cũng mong muốn đất nước Việt Nam phát triển về mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, y tế, luật pháp, môi sinh, v.v... Tôi nhấn mạnh chữ phát triển (development) để phân biệt với chữ tăng trưởng (growth). Tăng trưởng kinh tế mà kết quả không được phân phối đồng đều giữa các miền, giữa thành thị, nông thôn thì đất nước không phát triển toàn diện. Tăng trưởng kinh tế mà không đi đôi với tiến bộ xã hội (cải thiện giáo dục, y tế, huấn nghiệp, an sinh, lao động, ...) thì VN cũng không phát triển toàn diện.

Các định chế quốc tế dùng chỉ số phát triển con người (Human Development Index) để đo lường mức phát triển con người (một cách tổng quát), thay vì dựa vào GDP.

Nhìn vào bản trên chúng ta thấy Việt Nam sự phát triển con người còn thấp so với các nước trong vùng.

Nếu hoàn cảnh Việt Nam vẫn giữ nguyên như vậy, tức là thể chể chính trị vẫn y nguyên, đà tăng trưởng trong các lãnh vực kinh tế, xã hội, giáo dục, v.v... vẫn ở mức độ hiện nay thì 10 năm nữa Việt Nam sẽ ra sao?

Nếu giả sử kinh tế VN tăng trưởng ở mức khoảng 6-7% hiện nay thì 10 năm nữa vào năm 2013, GNI per capita của VN sẽ tăng gấp đôi vào khoảng US0. Vừa đủ ra khỏi nhóm quốc gia nghèo, gia nhập vào nhóm quốc gia trung bình thấp (lower middle-income 0-00) và đứng gần áp chót trong nhóm này.

Nền kinh tế Việt Nam lúc đó tương đương với kinh tế Thái Lan ở giữa thập niên 80, với kinh tế Mã Lai ở đầu thập niên 80, và tương đương với Đài Loan, Đại Hàn vào cuối thập niên 70. Hay nói cách khác, VN vẫn lẹt đẹt đi sau Thái Lan, Mã Lai hai mươi năm, tụt hậu so với Đài Loan, Đại Hàn ba mươi năm. Và cũng đừng quên là các quốc gia này vẫn trên đà phát triển, có nghĩa là mức cách biệt thật sự còn xa hơn thế nữa! Đây là một viễn ảnh không lấy gì làm hãnh diện lắm. Đây là một nỗi nhục lạc hậu!

Trong thế yếu kém của VN hiện nay: không bênh vực nỗi cho công nhân đang làm lao động nước ngoài, không bảo vệ nỗi bờ cõi đất đai, không đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi của quốc gia trong vụ sông Mê Kông, bị chèn ép bởi Trung Quốc (hàng lậu), Hoa Kỳ (bị buộc quota), VN càng ngày càng mất đi tính chất độc lập của mình về kinh tế, về ngoại giao. Mười năm nữa, một người công dân VN đi ra thế giới bên ngoài cầm cái passport Việt Nam có bị nhìn bằng một cặp mắt khinh thường hay không? Muốn viễn ảnh VN thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, chúng ta phải thấy ra nguyên nhân trì trệ nằm nơi đâu. Chúng ta không thể tách biệt các lãnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp ra rồi cho rằng cứ phát triển kinh tế, cứ làm giàu đi rồi mọi chuyện khác sẽ thay đổi theo.

Chúng ta phải thấy kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp đan cài vào nhau, cái này tác động hỗ tương lên cái kia. Kinh tế không thể phát triển mạnh và bền vững trong một xã hội mà luật pháp không được tôn trọng. Tham nhũng không thể bớt đi vì người ta giàu có hơn, ngược lại càng giàu thì lại càng có cơ hội tham nhũng ở mức độ lớn hơn. Tham nhũng chỉ có thể bớt đi khi người ta giàu có hơn cùng lúc với những thay đổi về luật pháp, tách bạch giữa guồng máy điều hành, lập pháp và tư pháp, cùng với sự cân bằng quyền lực của các guồng máy đó.

Cũng theo cuộc thăm dò bỏ túi tôi đề cập đến trong phần trên, gần 90% cho rằng mấu chốt nằm ở lãnh vực chính trị và luật pháp. Những tiến triển kinh tế của Việt Nam trong những năm vừa qua là chứng minh hùng hồn của sự năng động (dynamic) của nền kinh tế thị trường. Ngược lại, một hệ thống chính trị độc tài, độc đảng, kềm chế sự tự do ngôn luận, kềm chế thông tin, internet chính là rào cản làm trì trệ sự vươn mình của Việt Nam để trở thành Rồng Á Châu.

Nếu lãnh vực chính trị, luật pháp được thay đổi, cải thiện, Việt Nam có thể rút ngắn khoảng cách khác biệt với các nước trong vùng nếu biết khai thác đúng những ưu thế của mình, đó là:



Tầng lớp trẻ hiếu học, thông minh tại VN (50% dưới lứa tuổi 30)

300,000 chuyên viên Việt Nam hải ngoại hấp thụ được những kiến thức (know-how) của các quốc gia tân tiến trên thế giới cùng với 800,000 chuyên viên tại quốc nội.

một CĐVN hải ngoại vững mạnh đóng vai trò gạch nối giữa VN và các quốc gia trên thế giới.



Trong bối cảnh toàn cầu hóa, ưu thế để vượt trội không phải chính yếu là tài nguyên thiên nhiên nữa, mà chính là tài nguyên con người (human capital, human resource). Nếu hoàn cảnh chính trị, luật pháp được thay đổi cho tốt hơn, các lãnh vực giáo dục, xã hội được chú trọng, quyền tự do con người, quyền công dân được tôn trọng. Vốn con người được đầu tư đúng mức để khai thác ưu thế nhân lực của Việt Nam thì có thể, theo suy nghĩ của nhiều chuyên gia Việt Nam, thì Việt Nam có thể vươn những bước dài để đuổi kịp các nước láng giềng trong những thập niên tới.



Kết
******


10 năm cũng chỉ là một thời gian quá ngắn để kết luận về CĐVN hải ngoại về VN, tuy nhiên chúng ta phải thấy là trong những thập niên tới, CĐVNHN sẽ phát triển nếu



Người Việt hải ngoại duy trì được bản sắc và truyền thống dân tộc của mình ngay tại xứ sở đang sinh sống.

Động cơ mạnh mẽ nhất trong việc phát triển cộng đồng hải ngoại là để góp phần xây dựng tương lai một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh.

Giới trẻ tại hải ngoại tiếp nối tích cực tham gia vào cộng đồng trong mọi vai trò và tương lai của đất nước VN sẽ tươi sáng nếu



Việt Nam có được một môi trường tự do, dân chủ

Các ưu thế về con người được khai thác đúng đắn theo phương hướng nhân bản

Giới trẻ Việt Nam trong và ngoài nước góp phần vào việc thay đổi và phát triển VN.





Trần Hữu Nhân