 |
Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Đàn là của tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của báo điện tử HanoiParis.com.
Từ bản án Nguyễn Hồng Quang
đến vấn đề độc lập của toà án
nước CHXHCN Việt Nam
Luật Sư Nguyễn Xuân Phước
"There can be no liberty where the executive, legislative, and judicial branches are under one person or body of persons because the result is arbitrary despotism (tyranny)"
"Nơi nào ngành hành pháp, lập pháp và xét xử đứng dưới một người hay một tập đoàn thì nơi ấy không có tự do vì hậu quả của nó là một chế độ độc tài chuyên chính (bạo quyền)"
Charles-Louis de Secondat, Baron de Montesquieu (1748)
Tháng Tám năm 2003, mục sư Nguyễn Hồng Quang đã đến toà án nhân dân thành phố Hồ chí Minh với tư cách một luật gia biện hộ cho Hoa Việt Cường, là ba người cháu linh mục Nguyễn Văn Lý. Để sửa soạn cho việc bào chữa, luật gia Nguyễn Hồng Quang đã hoàn thành việc tổng hợp phiên dịch tài liệu "Xét Xử Công Bằng Là Gì?", do Tồ chức Luật Sư Nhân Quyền Hoa Kỳ soạn thào. Tài liệu nầy được dựa vào tài liệu "Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị" cũng như "Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân quyền" mà Việt Nam là một nước thành viên có ký kết.
Trong phần giới thiệu tài liệu nầy Mục Sư kiêm luật gia Nguyễn Hồng Quang viết: "Xin gởi đến những ngưòi công chính đang ở trong lao tù".
Những dòng chữ đó của MS Quang đã trờ thành lời tiên tri về số phận của ông và năm người đồng lao Tin Lành Mennonite.
Ngày 12 tháng 11 năm 2004, MS Quang trở lại toà án thành phố với tính cách là phạm nhân của toà án thành phố. Ông cùng với năm ngườì cộng sự đã bị truy tố vì tội chống nhân viên công lực thi hành nhiệm vụ. Ông bị kết án ba năm tù và những người cộng sự bị kết án từ 9 tháng đến 2 năm tù.
2.
MS Nguyễn Hồng Quang và gia đình ông không xa lạ gì với nhà tù Việt Nam. Sau năm 1975 cha ông cùng với người chú ruột vì đi lính dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà nên đã bi giam và bị chết trong lao tù của chính quyền cách mạng. Mẹ của ông cũng không sống qua nỗi những ngày tháng gian truân nhất của lịch sử dân tộc khi đất nước thống nhất. Ông tự phấn đấu để vươn lên trong xã hội phân chia giai cấp rất khắc nghiệt đó. Và cũng như tất cả những con cháu của ngưòi lính VNCH cũ, ông phải chạy vạy làm đủ ngành nghề để kiếm sống từng ngày khi Đảng Cộng Sản Việt Nam rộn ràng lãnh đạo đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa. Ông từng làm thầy thuốc bắc, đạp xích lô, bán cơm bình dân, bán rau trái để kiếm sống.
Từ năm 1981 ông tìm đưọc đức tin nơi Thiên Chúa và ông đã tự nguyện cống hiến cuộc đời của mình để phụng sư tha nhân và rao giảng đạo Tin Lành. Ông liên tục tham gia các hoạt động xã hội như làm việc với hội chữ thập đỏ, hưóng đạo, hội đông y sĩ chữa bệnh cho người nghèo. Ông tích cực tham gia phong trào Tin Lành tư gia và đi giảng đạo chui và trở thành một trong những mục sư của phong trào nầy. Ông khởi sự công tác truyền giáo bằng một nhóm Tin Lành tư gia với 40 thanh thiếu niên. Do hoạt động nầy ông đã bị hai lần tù. Năm 1982 ông bắt đầu truyền giáo cho đồng bào sắc tộc ở Tây Nguyên. Năm 1984 ông về Sài Gòn hoạt động truyền giáo. Ông bị bắt vì tội truyền đạo trái phép và bị giam tại Phan Đăng Lưu. Cho đến thời điểm 2004 trưóc ngày bị bắt lần cuôi cùng, MS Nguyễn Hồng Quang đã bị tất cả là 5 lần phải vào tù, 40 lần bị bắt và thẩm vấn, 03 lần bị trục xuất, và vô số lần bị lập biên bản và phạt hành chánh. Từ năm 2002 ông là phó hội trưởng và tổng thư ký Tin Lành Mennonite Việt Nam.
Song song với việc học thần đạo, năm 1995 MS Nguyễn Hồng Quang đã ghi danh học luật tại đại học luật Sài gòn. Ông tốt nghiệp đại học luật khoa năm 1999. Do chính sách của đảng và nhà nước, ông không đưọc trở thành luật sư. Dù vậy ông trở thành cố vấn pháp luật cho phong trào Tin Lành tư gia gồm nhiều hệ phái Tin Lành khác nhau.
Với tư cách là cố vấn pháp lý của phong trào Tin Lành tư gia, MS Quang đã đấu tranh để các nhóm Tin Lành tư gia đưọc sinh hoạt tín ngưỡng và hành đạo. Ông luôn luôn coi quyền nhóm họp thờ phương là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của nguoì dân. Có lần khi đang làm lễ phục sinh, ông bị công an đến hỏi giấy phép tụ họp. Ông trả lời quyền nhóm họp thờ phưọng Đức Chúa Trời là quyền tự nhiên của ngưòi dân. Nó cũng giống như việc lái xe bên phải. Tôi hỏi các anh, có ai mỗi lần lái xe bên phải ở Việt Nam mà phải làm đơn với công an phưòng để xin phép không? Ông luôn lưôn có niềm tin sắt đá vào quyền làm người và luôn luôn đứng ra bảo vệ những người bị bách hại. Ông đấu tranh để gìn giữ những nơi thờ phượng Đức Chúa Trời bị công an âm mưu đập phá. Ông cũng hướng dẫn các tín hữu những quyền công dân được công ước quốc tế công nhận để tăng cường ý thức dân quyền và nhân quyền của họ. Ông luôn luôn đứng bên cạnh các tín hữu sắc tộc ở Tây Nguyên khuyến khích và nâng đỡ họ trong niềm tin vì những người nầy thường xuyên bị chính quyền cách mạng bách hại và thúc ép bỏ đạo. Ông đã cho phồ biến tài liệu Xét Xử Công Bình Là Gì để làm tài liệu pháp lý căn bản huấn luyện cho những người theo đạo để giúp họ tăng cường ý thức về quyền công dân và quyền con người.
3.
Mâu thuẩn giữa mục sư Nguyễn Hồng Quang và chính quyền về quyền tự do tôn giáo là một cái gai nhức nhối cho chế độ. Vụ án MS Nguyễn Hồng Quang cũng như tất cả những vụ án nhân quyền, tôn giáo, chính trị của Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Phạm Hông Sơn Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Vũ Bình, Trần Khuê, Phạm Quế Dương, Nguyễn Đình Huy, Nguyễn Đan Quế v.v. trước đây xác nhận một điều là các vụ án đã được đảng Cộng Sản Việt Nam quyết định về tội danh và hình phạt trước khi đưa ra toà. Phiên toà chỉ là thời điểm công bố quyết định của ĐCSVN về sinh mệnh của bị can chứ không phải là cơ hội đề bị can đối chất với nhân chứng nhằm chứng minh sự vô tội của mình.
Sự thể nầy hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội như đã được qui định bởi điều 4 hiến pháp.
4.
Từ những vụ án nhân quyền, chính trị và tôn giáo xảy ra ở Việt Nam trước đây, chúng ta cần duyệt xét lại toàn bộ giá trị pháp lý của hệ thống toà án ở Việt Nam.
Trước hết, một nguyên tắc pháp lý cần được xác định đó là luật quốc tế luôn luôn có giá trị cao hơn luật quốc gia. Khi có sự mâu thuẩn giữa luật quốc tế và luật quốc gia, thành viên của luật quốc tế phải coi luật quốc tế là cơ sở pháp lý căn bản được xử dụng để thay thế cho luật quốc gia.
Nền tảng của luật quốc tế hiện nay là những văn bản luật liên quan đến nhân quyền đưọc Liên hiệp Quốc cô đọng qua một số luật quốc tế căn bản đó là Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948), Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự, và Quyền Chính Trị (1966), Công Ước quốc Tế về Quyền Kinh Tế, Văn hoá, Xã Hội (1966). Đến năm 1985 Liên Hiệp Quốc đã ban hành thêm Những Nguyên Tắc Căn Bản Về Tính Độc Lập của Toà Án để bổ xung cho việc thực hiện luật nhân quyền.
Lịch sử phát triển luật nhân quyền của cộng đồng nhân loại khởi đi từ những ước mơ về quyền làm người, quyền đưọc tự do làm chủ sinh mệnh của mình trong đời sống tinh thần và vật chất và trong mối tương quan của chủ thể với con người, xã hội và tự nhiên. Từ tuyên ngôn xác định những nguyên tắc cơ bản về quyền làm người, thế giới tiến đến việc công bố những qui ước ràng buộc các nước thành viên thực hiện và tôn trọng quyền làm người đó. Và để bảo đảm cho việc thực thi luật nhân quyền, Liên Hiệp Quốc đã thiết lập những nguyên tắc căn bản về tính độc lập của toà án.
Những nguyên tắc về tính độc lập của toà án được LHQ qui định như sau:
1. Nguyên tắc độc lập của toà án phải được nhà nước bảo đảm và phải được trân trọng ghi rõ ràng trong hiến pháp hay luật pháp của quốc gia. Bổn phận của các định chế nhà nước và các định chế khác là phải tôn trọng và theo dõi sự độc lập của hệ thống toà án.
Toà án phải xét xử các vụ án một cách không thiên vị, dựa vào sự kiện và theo luật pháp, không bị ràng buộc bởi cấm đoán nào, những ảnh hưởng bất chính nào, những dụ dỗ nào, những áp lực nào, những đe doạ hay can thiệp nào, trực tiếp hay gián tiếp, từ bất cứ góc cạnh nào, hay vì bất cứ lý do gì.
2.
Basic Principles on the Independence of the Judiciary
Adopted by the Seventh United Nations Congress on the Prevention of Crime and the Treatment of Offenders held at Milan from 26 August to 6 September 1985 and endorsed by General Assembly resolutions 40/32 of 29 November 1985 and 40/146 of 13 December 1985
Nguyên tắc độc lập toà án của Liên Hiệp Quốc đưa ra trên đây đòi hỏi sự thực hiện chế độ phân quyền trong việc tổ chức guồng máy quốc gia. Đó là sự độc lập của ngành toà án đối với các ngành hành pháp và lập pháp.
Nguyên tắc độc lập của ngành toà án của Liên Hiệp Quốc phủ định toàn bộ giá trị hệ thống luật pháp hiện nay của nước Cộng Hoà Xã Hội chủ Nghĩa Việt Nam.
Hiến pháp Việt Nam quy định rằng :
Ðiều 4:
Ðảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Bỏ đi tất cả những mệnh đề phụ rườm rà của điều 4, mệnh đề chính của điều khoản nầy xác định ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà Nước và xã hội. Quyền lực của đất nước đều qui về một mối và do đó, bất cứ hiện tượng xã hội, kể cả luật pháp và toà án, đều bị sự chi phối của ĐCSVN.
Hãy khoan nói đến tính chât bất hợp pháp của hiến pháp Việt Nam đứng trên thủ tục lập hiến. Việc tập trung quyền hành vào một đảng chính trị, và việc đảng cầm quyền chi phối mọi sinh hoạt quốc gia là một vi phạm trắng trợn nguyên tắc độc lập toà án.
Khoản 1 của Tuyên Ngôn Quyền Làm Ngưởi của Pháp nhận định như sau: Bất cứ xã hội nào không có sự phân quyền thì coi như không có hiến pháp. (Any society in which ... the separation of powers is not observed has no constitution.)
Và nói như Montesquieu thì Nơi nào ngành hành pháp, lập pháp và xét xử đứng dưới một người hay một tập đoàn thì nơi ấy không có tự do vì hậu quả của nó là một chế độ độc tài chuyên chính
Ủy Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc nhận định rằng một hệ thống toà án độc lập là điều kiện tiên khởi và thiết yếu để bảo vệ nhân quyền và bảo đảm không có sự kỳ thị trong việc thi hành công lý. (an independent judiciary is an "essential prerequisite for the protection of human rights and for ensuring that there is no discrimination in the administration of justice". ) - (Resolution 1994/41 of the United Nations Human Rights Commission. See (1994) 20 Commonwealth Law Bulletin 957. )
Nói một cách khác, trong một chế độ có hệ thống toà án không độc lập, công tác xét xử bị đảng cầm quyền chi phối, như trường hợp Việt Nam, nhân quyền không được bảo vệ và công lý không được thi hành.
Do đó, nước Việt Nam hiện nay không có cơ sở pháp lý phù hợp với yêu cầu của Liên hiệp Quốc để bảo đảm nhân quyền và dân quyền cho người dân.
Vụ án Nguyễn Hồng Quang là cơ hội để nhân dân và thế giới thấy rõ tính chất không độc lập của hệ thống toà án hiện nay tại Việt Nam. Sự thể không độc lập của toà án là cội nguồn của mọi bất công, tham nhũng, không trong sáng, ân oán, hận thù và đau khổ đã và đang xảy ra trong xã hội. Và chỉ dưới chế độ có hệ thống toà án không độc lập mới xảy ra những trường hợp người công chính phải bị bắt bớ bị giam giữ trong lao tù.
5.
Sau khi Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa sụp đổ, Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam phải miễn cưỡng giả từ nền kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa rất nghèo đói để khập khiễng bước vào ánh sáng văn minh và thịnh vượng của thời đại.
Nhưng ánh sáng của văn minh đi kèm với cái giá của nó. Trong môi trường của một thế giới liên lập (interdependent) của thời đại toàn cầu hoá Việt Nam bị bắt buộc phải tuân thủ các luật pháp của quốc tế. Luật chơi thời kỳ toàn cầu hoá hoàn toàn khác với thời kỳ đóng cửa, chuyên chính vô sản và thời kỳ chiến tranh lạnh. Nền dân chủ pháp trị của một nước văn minh ở thế kỷ thứ 21 không thể tiếp tục dựa vào tính tùy tiện của một đảng phái trong việc làm luật, thi hành luật và xét xử.
Luật quốc tế về quyền làm người, quyền dân sự và quyền chính trị, cũng như qui định của Liên Hiệp quốc về sự độc lập của toà án là những cơ sở pháp lý quốc tế có giá trị vượt trội và có khả năng can thiệp trực tiếp và xuyên thủng hệ thống luật pháp quốc gia của Việt Nam.
Do đó, cái giá mà ĐCSVN phải trả để được tiếp tục được hít thở không khí văn minh là họ không thể tiếp tục chống trả với áp lực quốc tế về yêu cầu thực thi quyền làm người, quyền dân sự và chính trị cho người dân Việt Nam. ĐCSVN không thể kéo dài giai đoạn hấp hối của cái cơ chế độc tài còn sót lại của môt chủ nghĩa đã bị loài người phế thãi. Đảng cầm quyền không thể bám víu vào một hệ thống pháp lý lỗi thời xây dựng trên một hiến pháp giả tạo của thời kỳ đấu tranh giai cấp để làm hành trang cho thời đại nhân quyền. Luật pháp tùy tiện của thời kỳ cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, đánh tư sản, đổi tiền tịch thu tài sản nhân dân, giam người vô hạn định và vô cớ không thể và không còn chổ đứng trong thời đại văn minh của thế kỷ thứ 21.
6.
Công tác căn bản của việc giải quyết tình trạng vi phạm nhân quyền và dân quyền tại Việt Nam là phải tháo gở tính chuyên chính của đảng cầm quyền. Đây là việc phải làm của tất cả mọi người dân, mọi tổ chức xã hội dân sự, chính trị và của ngay cả những người Cộng Sản có ý thức.
Muốn giảm thiểu tính chuyên chính của một chế độ, người lãnh đạo phải biết lắng nghe tiếng khóc than oan ức của người dân. Hay ít ra phải biết nghe lời can gián của những tiếng nói của lương tri. Từ thế kỷ thứ 14, Triều đình nhà Trần đã nhận thức được vai trò của việc giám sát nhà vua nên thiết lập cơ quan ngự sử đài có nhiệm vụ giám sát và can gián triều đình và đồng thời đàn hạch các quan lại tham nhũng. Từ đó đến ngày quan ngự sử Phan Đình Phùng từ chức để phản đối Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chuyên quyền, không có triều đình nào không có sự hiện diện của ngự sử đài.
Ở thời đại văn minh dân chủ để giảm thiểu độc tài chuyên chính người ta không cần ngự sử đài. Điều cần thiết là phải loại bỏ điều kiện chính trị để một người hay một tập đoàn có cơ hội tập trung quyền hành. Đồng thời phải tạo điều kiện để tiếng nói đối lập có chổ đứng trong sinh hoạt chính trị.
Trong bối cảnh lịch sử và chính trị hiện nay, điều 4 hiến pháp là cơ sở pháp lý giả tạo để biện minh cho một cơ chế chính trị còn sót lại của thời kỳ phong kiến độc tài chuyên chính theo kiểu Lê Ngọa Triều. Bỏ điều 4 hiến pháp là khởi điểm của hành trình giả từ chuyên chính. Hành trình nầy phải được tiếp nối bằng việc thực hiện một hiến pháp mới để tố chức một guồng máy nhà nước theo nguyên tắc phân quyền. Chỉ có một hiến pháp xây dựng trên nguyên tắc phân quyền mới bảo đảm cho sự độc lập của ngành toà án để giảm thiểu tính chất độc tài của nhà nước. Và sự độc lập của toà án mới có thể bảo đảm cho nhân quyền và dân quyền của người dân trong nước.
Do đó, nếu đảng cầm quyền hiện nay thực tâm yêu dân và muốn bảo vệ nhân quyền và dân quyền cho người dân thì công tác cấp bách nhất là xây dựng một hệ thông toà án độc lập bằng cách thiết lập lộ trình giải thể chuyên chính. Chỉ khi ấy Việt Nam mới có thể hội nhập vào cộng đồng nhân loại văn minh một cách thành thật và nghiêm chỉnh. Và chỉ khi ấy những vụ án như Nguyễn Hồng Quang mới không thể tái diễn trên đất nước Việt Nam.
Luật Sư Nguyễn Xuân Phước
20-11-2004
Nguyễn Xuân Phước
|