Một Vòng Hoa cho Nhà Cách mạng Chân chính & Nhà Văn hoá Nhân bản NGUYỄN HỮU ĐANG (1913-2007) /Người thuyền trưởng (PHẦN 2)


Người thuyền trưởng (PHẦN 2)









Giữ ra sao ? ông dặn Ban dạy học chỉ dẫn đến độ năm, sáu chục học viên nhỏ tuổi, đứng im lặng, hễ ông đọc xong bài phát biểu là tự động giải tán ra về. Một giáo viên sẽ đến phân trần với ban tổ chức là học viên người lớn của Hội ban ngày bận đi làm, chỉ có một số ít học viên nhỏ này rỗi phần nào là đi dự được. Họ đứng lâu sốt ruột lại thiếu ý thức trật tự, khuôn phép nên tự động bỏ về, chúng tôi bực mình nhưng cũng đỡ lo vì nếu họ diễu hành, đi gần tượng đài và các quan khách mà có cử chỉ, ngôn ngữ thiếu lễ độ, tôn kính thì tai hại.

Còn bài phát biểu của ông, bằng dẫn chứng cụ thể và biện luận chặt chẽ, chính các giáo sĩ Tây-ban-nha và Bồ-đào- nha không để lại lên tuổi, đến xứ này trước A-léc-xăng đờ Rô- đơ mới là những người đầu tiên dùng chữ cái la-tinh phiên âm tiếng Việt, sáng tạo hệ thống gần hoàn chỉnh chữ quốc ngữ hiện ta đang dùng. Sau đó, A-léc-xăng đờ Rô-đơ mới góp phần mình bằng những cố gắng qui tắc hoá và đem phổ biến hạn chế trong việc dịch kinh bổn và biên soạn tài liệu cho giáo hội. Ông ta đáng khen ở chỗ thừa kế các bậc tiền bối mà có bổ sung trong chi tiết. Những người nghe ông nói hoặc đọc bài phát biểu đăng trên một tờ báo Pháp ra ngày hôm sau đều thấy rõ ông đã vạch trần âm mưu xuyên tạc lịch sử để tuyên truyền lừa bịp của bọn thực dân.

Chưa bao giờ ông tỏ bày quan điểm của ông về chủ nghĩa cộng sản, các đảng cộng sản. Điều chắc chắn là ông kính trọng phong trào cách mạng Việt Nam. Và đối với Liên Xô, trong cuộc chiến tranh Xô-đức, lạ thay ? mặc dầu đại đoàn quân thứ sáu của Phôn Pao-lút đã tiến sát Xta-li-grat, ông vẫn cứ kiên trì tin là cuối cùng Liên Xô sẽ thắng. Nhớ sử hơn ai hết, ông đoán trước số phận của Hít-le : Nó không tránh được thất bại của Sác-lơ XII (vua Thuỵ Điển) và Na-pô-lê- ông (hoàng đế Pháp), cả hai đều đã hùng hổ tiến sâu vào đất Nga như vũ bão mà rồi cũng phải tháo chạy cùng với đội quân bách chiến bách thắng lần đầu bị đánh tan. Kết hợp với kinh nghiệm lịch sử, ông chứng minh thêm bằng lý luận đơn giản : " Họ đất rộng người đông, đoàn kết và nhất trí, chiến đấu anh dũng và bền bỉ, chịu đựng hy sinh, gian khổ như thế thì thua sao được ? ".

Sự tỉnh táo, chín chắn của ông trước thời cuộc rối ren còn tỏ ra năm 1945, mấy tháng sau đảo chính Nhật ngày 9 tháng 3, khi nội các Trần Trọng Kim thành lập. Trong một buổi họp của Ban trị sự, có ngươi đề nghị Hội gửi điện ủng hộ chính phủ này. Ông yêu cầu mọi người thảo luận kỹ trong khi ông luôn mỉm cười tỏ ý hoài nghi. Cuối cùng tuyệt đại đa số tán thành quyết định do ông đưa ra sau khi giải thích :

" Trong hoàn cảnh bình thường, Hội không làm chính trị. Song nếu Hội có tinh thần yêu nước thì ở giờ phút nghiêm trọng của Tổ quốc như có nguy cơ bị xâm lược hoặc có thời cơ tự giải phóng, Hội không thể thờ ơ. Có điều ủng hộ một chính phủ mới thành lập là việc hệ trọng và phức tạp, có thể có những uẩn khúc, những yếu tố tác động ngầm mà ta không hiểu tốt xấu thế nào. Theo tôi biết, phần lớn các ông trong chính phủ này, trước đây đều tốt chắc bây giờ cũng còn tốt. Nhưng về chính trị, để định đoạt vận mệnh cả một dân tộc, tốt chưa đủ, mà còn phải đúng và giỏi. Các ông ấy đúng và giỏi tới mức nào, còn chờ việc làm thực tế trả lời. Vậy ta hãy tạm hoãn tỏ thái độ ".

Là người cầm trịch tự tín và mềm dẻo, vững vàng mà khiêm tốn, ông biết phục thiện khi sai lầm. Cũng sau đảo chính Nhật, hai viên lãnh sự trong toà đại sứ Nhật (trên thực tế đã trở thành Phủ toàn quyền) đến gặp ông, vừa là xã giao, vừa để thăm dò dư luận giới trí thức Việt Nam, khoe khoang mục đích " tốt đẹp " của chủ nghĩa Đại Đông Á. Ông " thú thật " không am hiểu chính trị, chỉ mong sao quân đội Nhật và hiến binh Nhật không cản trở sự hoạt động bình thường của Hội TBQN. Lập tức, ngày hôm sau, sứ quán Nhật đưa đến cho Hội một giấy chứng nhận --bảo đảm có hiệu lực nhất. Ông mừng rỡ, nhờ người sao in thành nhiều bản và trao cho các ban chuyên môn để làm " bùa hộ mệnh ".

Lúc ấy, tôi có chân trong Hội văn hoá cứu quốc và là Trưởng ban dạy học trung ương bị Nhật truy lùng, đã rút vào bí mật, bèn viết cho ông một bức thư đại ý nói tình hình đất nước và cái thế của Hội không còn như hồi Toàn quyền đờ-cu chỉ thị cho cấp dưới để Hội được hoạt động dễ dàng nữa, mà đã bước vào giai đoạn Việt Minh lãnh đạo toàn dân vùng lên đánh Pháp đuổi Nhật, giành độc lập, thì bất cứ thái độ nào, hành động nào thân thiện với Nhận, dựa vào Nhật đều là sai trái, tội lỗi. Hội dùng giấy chứng nhận - bảo đảm kia sẽ bị quần chúng nghi ngờ, khinh ghét, hại nhiều hơn lợi. Ông đã tiếp thu phê bình và huỷ bỏ ngay giấy chứng nhận - bảo đảm của bọn phát-xít.

Đã đến lúc chẳng những giấy chứng nhận - bảo đảm của toà đại sứ Nhật vô giá trị mà súng, gươm của quân đội Nhật cũng vô giá trị. Giữa thủ đô sôi sục của những ngày sắp tổng khởi nghĩa, người thuyền trưởng chăm chú xem xét tình hình... Mặt trận Việt Minh đang lôi cuốn hàng triệu người vào cuộc đấu tranh một mất một còn. Bản chỉ thị in ty-pô của Ban dạy học trung ương do tôi viết, gửi anh, chị, em giáo viên bốn miền trong địa bàn Hà Nội (nội, ngoại thành và một số làng lân cận thuộc tỉnh Hà Đông), công khai hô hào khẩn trương chuẩn bị hưởng ứng cướp chính quyền, bắt đầu bằng xung phong nhận hai việc cứu tế, bảo an của phố, của làng, theo lệnh các tổ chức Mặt trận và tận dụng tín nhiệm đã giành được lòng nhân dân mà hành động hết sức mình ; lấn át, uy hiếp những phần tử ngang trái : cứ duy trì lớp học làm nơi tập hợp, tuyên truyền...

Một tên cơ hội đã đem một tờ chỉ thị kia đến mách ông Hội trưởng, nói đây là hành động trái điều lệ Hội, bọn Nhật mà biết thì Hội sẽ bị khủng bố. Ông đọc đi đọc lại tờ chỉ thị táo bạo, bất ngờ, trầm ngâm một lúc cho sự xúc động lắng xuống, rồi nói nhẹ nhàng : Quả thật tôi không biết việc này. Nhưng tôi không lấy nê mình là Hội trưởng để bắt bẻ anh em về sự không hỏi ý kiến mình. Thú thật với ngài là nếu tôi, tôi sẽ vô cùng lúng túng, chẳng biết giải quyết thế nào. Anh em tự động làm cũng là may cho tôi. Bây giờ việc đã rồi, không thể thay đổi, mà có lẽ cũng không nên thay đổi. Hội TBQN là con đẻ của phong trào cách mạng và là con nuôi của đồng bào cả nước. Tôi chỉ là người được uỷ nhiệm chăm nom. Đứa trẻ ấy đã trưởng thành, nó đi vào con đường nào là tuỳ nó và hai bà mẹ. Còn tôi, dù nó chọn con đường nào tôi vẫn tiếp tục thương yêu giúp đỡ nó như trước.

Lời tuyên bố dứt khoát cũng là lời tâm sự chân thành, chí tình, chung thuỷ.

Viết đến đây, tự nhiên tôi nhớ đến câu nói cuối cùng của ông về Hội, ngay trong buổi họp của Chính phủ lâm thời quyết định thành lập Nha Bình Dân Học Vụ để xoá nạn mù chữ, để diệt giặc dết như Chủ tịch HỒ Chi Minh đề ra. ông ghé sát tai tôi, đưa tay che miệng, nói nhỏ, trên nét mặt thoáng hiện vẻ buồn khó tả, niềm ân hận hay thiết tha kìm giữ lại làm nhíu đôi mày :



--Giá cứ để Hội TBQN đảm nhận với sự bảo trợ đầy đủ của Chính phủ thì có lẽ hơn. Thông cảm sự nhớ tiếc, lưu luyến của ông, tôi an ủi :

--Hội TBQNLA tiền thân của BDHV cũng được.

Rồi để khẳng định Hội sẽ cứ lồn tại vĩnh viễn trong lịch sử tôi vui nhộn đọc nhại định luật La-voa-di-ê (Lavoisier) : " Không có cái gì mất đi, không có cái gì mới tạo ". Ông khẽ lắc đầu không tán thưởng.

Thì ra người thuyền trưởng hôm qua dù nay ở địa vị cao trong chính quyền cách mạng cũng không muốn rời bỏ con thuyền không muốn nó nhường chỗ cho một bộ máy khác lớn hơn hàng ngàn lần, không muốn nó được đưa vào viện bảo tàng quá sớm. Rõ ràng đối với ông, cái hình ảnh viễn tưởng con thuyền cũ lớn vụt lên như Thánh Gióng vươn mình, cùng ông chở ánh sáng học thức sơ đẳng đi khắp nẻo đường đất nước, đến tận những nơi tối tăm nhất, có sức lôi cuốn như một tín ngưỡng, như một tiếng gọi thiêng liêng. Không phải trong ý thức gắn bó của ông với con thuyền có cái hẹp hòi, cục bộ --mà chính là có cái nhận thức sâu sắc về vai trò của một đoàn thể tư nhân (nay gọi là tổ chức phi chính phủ) làm nòng cốt cho một phong trào quần chúng rộng lớn.

Từ vài năm nay, khẩu hiệu " Nhà nước và nhân dân cùng làm " được đề cao, phổ cập, cái mong muốn duy trì Hội TBQN trong lòng xã hội Việt Nam độc lập, dân chủ của ông lại gợi người ta suy nghĩ về một giải pháp kết hợp công (Bộ Giáo dục) với tư (hội học) tương tự mối quan hệ giữa Hội chữ thập. Trong những lời thăm hỏi ân cần anh, chị, em trong các ban chuyên môn cũ của Hội, tôi cảm thấy ông đặt hy vọng vào một ê-kíp thuỷ thủ mà ông tin cậy hết lòng nhưng họ đã lao hết vào những hoạt động mới. Ông không thể nào quên bảy năm ròng kề vai sát cánh cùng họ, như người anh cả dìu dắt các em trong một đại gia đình, thân thiết đến mức tiếng xưng hô ngài ông quen dùng tưởng như khách sáo, cách biệt, mà vẫn giữ được vẻ chan hoà, gần gũi ! Trong bầu không khí bình đẳng và tự giác, giữa ông Hội trưởng và các uỷ viên Ban trị sự, giữa Ban trị sự và các Ban chuyên môn, giữa các Trưởng ban chuyên môn và anh, chị em, đã dần dần hình thành một lề lối làm việc tập thể, dân chủ từ cơ chế đến tác phong.

Ai không tự giác sẽ mất quyền bình đẳng và bị cấp trên trong tổ chức chấn chỉnh chăng ? Không ? " Đối với họ --ông khuyên dặn chúng tôi --ta vẫn cứ bình đẳng mà thuyết phục. Ở đây tuyệt nhiên không có danh lợi gì ràng buộc. Đặt ra quyền hành chẳng qua là để gây ý thức làm việc có trật tự, để giúp người có trách nhiệm chỉ huy được " danh chính ngôn thuận ", để người cấp dưới chú ý mà tự giác phục tùng. Quyền hành có trên nguyên tắc, được công nhận đấy nhưng không nên dùng trong thực tế. Các ngài thử nghĩ xem, nếu cấp trên có quyền ép buộc, khiển trách mà cấp dưới lại có quyền tự do bỏ đi không trở lại, thì dùng quyền hành có tác dụng gì ? ". Nhận xét về châm ngôn HY SINH - KIÊN QUYẾT - KỶ LUẬT - THÂN ÁI của Ban dạy học, châm ngôn cô đúc tất cả cái gọi là tinh thần TBQN, ông khen anh, chị em biết gắn liền kỷ luật với thân ái. Ông phân tích : " Kỷ luật là lý thân ái là tình. Cả lý và tình kết hợp lại mới tác động mạnh và sâu vào lòng người ".

Bốn tiếng " truyền bá quốc ngữ " gắn liền với lên tuổi hai người : Phan Thanh và Nguyễn Văn Tố. Ông Phan Thanh, Tổng thư ký của Hội, mất ngày 1 tháng 5 năm 1939, ngày lễ Quốc tế lao động. Nếu đám tang ông là đám tang lớn nhất ở Đông Dương trước Cách mạng tháng Tám, có trên hai vạn người đi đưa, nỗi tiếc thương, niềm kính phục như tràn ngập đoàn người kéo dài ba cây số, thì cái chết của ông Nguyễn Văn Tố, đồng bào ta ít người biết đến.

Giặc Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn tháng mười năm 1947, trong số cán bộ cao cấp của ta (uỷ viên trung ương Đảng, bộ trưởng), chỉ có một mình ông bị bắt. Theo lời một số đồng bào có mặt bên cạnh ông kể lại, chúng bắt được ông mà không biết là Nguyễn Văn Tố. Chúng giữ ông lẫn với đồng bào, trong một khu đất rộng, rào tạm bợ, có lính gác. Ông biết nếu chúng phát hiện ra ông, chúng sẽ tìm cách lợi dụng, dù ông không chịu đầu hàng. Chúng sẽ phao tin ông qui thuận. Chúng sẽ bịa ra những lời tuyên bố xằng bậy, nào chống cộng sản, nào chán kháng chiến... gọi là của ông mà không để cho ông có thể cải chính cách nào. Đến đêm, ông đã bất chấp nguy hiểm, bỏ trốn. Một tên lính hô : " Đứng lại ! " Ông chạy nhanh. Một tràng tiểu liên nổ theo bóng ông. Ông ngã gục...

Ngày nay chúng ta tưởng nhớ ông, muốn tìm đến nơi ông an nghỉ ngàn thu để đặt một bó hoa, thắp mấy nén hương mà chẳng biết tìm đâu. Thật là đau xót !

Niềm đau xót càng da diết khi chúng ta nghĩ rằng đáng lẽ trong buổi họp kỷ niệm năm mươi năm thành lập Hội TBQN sắp tới phải có ông đứng trước tượng Bác Hồ, đọc một bài diễn văn... Cũng vẫn thân hình thâm thấp, cũng vẫn y phục dân tộc xuềnh xoàng, cũng vẫn tiếng nói oang oang, dõng dạc, cũng vẫn tấm lòng ưu ái sắt son. Ông đã trăm lần xuất hiện như thế trên diễn đàn, để lại trong trí nhớ chúng ta hình ảnh đẹp chưa chút phai mờ một chiến sĩ già năng nổ, hiên ngang, nhất là trong buổi lễ ra mắt của Hội, ngày 25 tháng 5 năm 1938 tại sân quần vợt Câu lạc bộ An-nam (CSA). Tối hôm ấy, dưới ánh đèn điện sáng trưng, ông đã cùng ông Phan Thanh phát động phong trào chống nạn thất học trước những con mắt trìu mến của mấy ngàn người.

Nguyễn Văn Tố đã đi vào lịch sử, với sự nghiệp khoa học và với sự nghiệp chống nạn thất học, nâng cao dân trí. Nói đến Nguyễn Văn Tố là nói đến công cuộc của Hội TBQN. Ông xứng đáng là người tiếp tục Nguyễn Thượng Hiền, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền...



Dân Hà Nội và khách du lịch, có lần đến thăm khu di tích Văn miếu, đứng trước hàng bia cổ kính, chợt nhớ một ông già, dưới bút danh Ứng Hoè, đã viết để lại tập sử liệu Những ông nghè triều Lê. Và họ bâng khuâng giây lát, mường tượng nghe trong hơi gió thoảng văng vẳng hai tiếng i tờ.





Nguyễn Hữu Đang












Nguyễn Hữu Viện trình bày





 
 
 
 


Thơ Paris - Poèmes dédiés à Paris


Thơ Hà Nội - Poèmes dédiés à Hanoi


Thơ vinh danh Người Tù Lương Tâm - Poèmes à l'Honneur des Prisonniers de la Conscience


Thơ Tượng Trưng - Poètes Symbolistes


Thơ Siêu Thực - Poètes surréalistes


Thơ Lãng Mạng - Poètes romantiques


Thơ Hậu Hiện Đại - Poètes Post-Modernistes


Thơ Dấn Thân - Poètes engagés


Thơ Hòa Bình - Poètes pour la Paix


Thơ cho Tự Do - Poètes pour la Liberté


Thơ Lưu Đày - Poètes en exile


NGUYỄN HỮU VIỆN : Ý KIẾN Chính trị Xã hội - Phần 1


Hà Nội Một Thời Trai Chinh Chiến - Tuyển Tập Thơ Nguyễn Mạnh Hùng


Nhật Ký ĐẶNG THÙY TRÂM .. ..


Kỷ niệm Hồng Phố ...


Cuộc đời Bà Việt kiều Mỹ đẹp như một Bài thơ ...


Lễ hội Tình yêu ....(thơ nhạc tiếng Anh & Pháp do NHV tuyển chọn & sáng tác ....)


Tưởng niệm Thi sĩ Hoàng Anh Tuấn - Người Tình Chung Thủy Ngàn Năm của Hà Nội Muôn Thuở ....


Mười Năm Một Nén Hương Tâm (tưởng niệm Nhà Thơ Dân Tộc Phùng Quán)


Một Vòng Hoa cho Nhà Cách mạng Chân chính & Nhà Văn hoá Nhân bản NGUYỄN HỮU ĐANG (1913-2007)


Tưởng Niệm Húy Nhật thứ 5 Lão Tướng Trần Độ


HOÀNG SA - TRƯỜNG SA



Tưởng Niệm các Nhà Dân Chủ Việt Nam


NGUYỄN HỮU VIỆN : Ý KIẾN Chính trị Xã hội - Phần 2


Đoản thi Shakespeare


Thơ Tình cho LARA - Tuyển tập Thơ trong Tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago


Les Miserables musical


Thi sĩ Giải Nobel Văn chương




Lãng Tử - Lãng Du - Lãng Nhân


Tuyển Tập Ảnh


Beethoven gửi Người Yêu Bất Tử : "An Die Fern Geliebte - Gởi Người Yêu Trời Viễn Phương"


Blue Ocean - Biển Xanh - Océane Bleue


My Faraway White Dove ...


Chúc Mừng Xuân Kỷ Sửu 2009 HẠNH PHÚC - YÊU ĐỜI ...


Kỷ Niệm Biến Cố THIÊN AN MÔN 20 Năm (1989-2009)


Aung San Suu Kyi : Linh Hồn của Phong Trào Dân Chủ Miến Điện


Trang Tưởng Niệm Những Con Người Khả kính ...và những Cánh Chim Việt lìa Đàn ...


Những bài thơ .....


Dalena : Nữ ca sĩ yêu ca hát Nhạc Việt với tất cả Tình yêu và Đam mê ...


Ca Nhạc Kịch Evita : Xin Đừng Khóc Thương Cho Ta Á Căn Đình !


Anthologie de la Poésie pour François - Poetry Anthology for François


Tuyển tập Thi ca Việt Nam Hiện đại - Anthology of Modern Vietnamese Poetry


Tuyển tập Thi ca Việt Nam Hiện đại - Anthologie de la Poésie Vietnamienne Moderne


Những tình khúc Anh - Pháp - Việt - Tây Ban Nha


Thủ đô Ánh sáng qua Thi ca


Giáo sư Vũ Quốc Thúc


Thơ Yêu Nước LÝ ĐÔNG A


Céline ! ! ! ...


PARIS : chansons + songs


"Hoàng Hôn Thôn Vỹ"


Prix NOBEL : Pablo NERUDA + Gabriel Garcia Marquez


Les plus belles chansons pour MAMAN et PAPA - The most beautiful songs for MOTHER and FATHER


Academy Award for Best Animated Short Film


ROMEO and JULIET - Shakspeare


HANOI, PARIS, LONDON, .... SAIGON, WASHINGTON ... Top songs


My Teachers, My Schools, My Dog and My Friends ....


Les Chansons berceuses pour notre Titi François


Oh ! Paris !


Golden Globe Award for Best Original Song


Academy Award for Best Original Song


La Mode Parisienne - The Paris Fashion


2014 : Bonne chance François ! ...


Ý KIẾN Nguyễn Hữu Viện PHẦN 3


Ý KIẾN Nguyễn Hữu Viện PHẦN 4


Academy Award for Best Original Score - Giải Oscar cho nhạc phim hay nhất


Ý Kiến NGUYỄN HỮU VIỆN phần 5


The Velours and Orange Revolutions


John McCain