Aung San Suu Kyi : Linh Hồn của Phong Trào Dân Chủ Miến Điện / Freedom From Fear - Tự do khỏi nỗi khiếp sợ










Human beings the world over need freedom and security that they may be able to realize their full potential.
Con người trên thế giới cần tự do và an ninh để họ có thể thực hiện hoàn toàn tiềm năng của họ.

Aung San Suu Kyi




I think I should be active politically. Because I look upon myself as a politician. That's not a dirty work you know. Some people think that there are something wrong with politicians. Of course, something wrong with some politicians.
Tôi nghĩ rằng tôi năng động trong chính trị. Bởi vì tôi xem tôi như nhà chính trị. Như bạn biết đó không phải là việc dơ bẩn. Nhiều người nghĩ rằng có gì sai trái với các nhà chính trị. Dĩ nhiên có những sai sót với vài chính khách

Aung San Suu Kyi




It is often in the name of cultural integrity as well as social stability and national security that democratic reforms based on human rights are resisted by authoritarian governments.
Thông thường nhân danh đồng nhất văn hóa cũng như ổn định xã hội và an ninh quốc gia mà cuộc cải cách dân chủ dựa trên nhân quyền thường bị chống đối bởi các chính phủ độc tài

Aung San Suu Kyi




Peace as a goal is an ideal which will not be contested by any government or nation, not even the most belligerent.
Hòa bình như là mục đích lý tưởng mà không bị cưỡng lại bởi bất kỳ chính phủ nào hay quốc gia nào, ngay cả quốc gia hiếu chiến nhất

Aung San Suu Kyi




The democracy process provides for political and social change without violence.
Tiến trình dân chủ cho thay đổi chính trị và xã hội mà không có bạo động







Aung San Suu Kyi


The history of the world shows that peoples and societies do not have to pass through a fixed series of stages in the course of development.
Thế giới sử chứng tỏ rằng các dân tộc và các xã hội không kinh qua một chuỗi cố định gồm các giai đoạn trong tiến trình phát triển

Aung San Suu Kyi




The struggle for Democracy and Human Rights in Burma is a struggle for life and dignity. It is a struggle that encompasses our political, social and economic aspirations.
Cuộc đấu tranh cho Dân chủ và Nhân quyền tại Miến Điện là cuộc đấu tranh cho đời sống và nhân phẩm. Đây là cuộc đấu tranh bao trọn các nguyện vọng chính trị, xã hội và kinh tế.

Aung San Suu Kyi




The value systems of those with access to power and of those far removed from such access cannot be the same. The viewpoint of the privileged is unlike that of the underprivileged.

Các hệ thống giá trị của những ai nắm quyền và các hệ thống giá trị của những ai bị tước đoạt quyền như vậy không thể giống nhau. Quan điểm của kẻ đặc quyền khác biệt với kẻ thiếu đặc quyền Aung San Suu Kyi







Aung San Suu Kyi
(1945 - ) nhà đấu tranh Dân chủ kiên cường bền bỉ của Dân tộc Miễn Điện. Bà Aung San Suu Kyi được giải Nobel Hòa Bình 1991. Chính quyền Miễn Điện vẫn tiếp tục quản thúc bà bất chấp sự phản đối của thế giới.

"Tự Do khỏi nỗi khiếp sợ" của Aung San Suu Kyi được phổ biến để Kỷ niệm Giải Thưởng Sakharov vì Tự Do Tư Tưởng mà Nghị Viện Âu Châu trao tặng. Lễ trao giải diễn ra tại Strasbourg vào ngày 10 tháng Sáu 1991 mà không có sự hiện diện của bà Aung San Suu Kyi.



Freedom From Fear - Tự do khỏi nỗi khiếp sợ







Nguyễn Hữu Viện chuyển ngữ



"It is not power that corrupts but fear. Fear of losing power corrupts those who wield it and fear of the scourge of power corrupts those who are subject to it."

( Aung San Suu Kyi - "Freedom From Fear")



It is not power that corrupts but fear. Fear of losing power corrupts those who wield it and fear of the scourge of power corrupts those who are subject to it. Most Burmese are familiar with the four a-gati, the four kinds of corruption. Chanda-gati, corruption induced by desire, is deviation from the right path in pursuit of bribes or for the sake of those one loves. Dosa-gati is taking the wrong path to spite those against whom one bears ill will, and moga-gati is aberration due to ignorance. But perhaps the worst of the four is bhaya-gati, for not only does bhaya, fear, stifle and slowly destroy all sense of right and wrong, it so often lies at the root of the other three kinds of corruption. Just as chanda-gati, when not the result of sheer avarice, can be caused by fear of want or fear of losing the goodwill of those one loves, so fear of being surpassed, humiliated or injured in some way can provide the impetus for ill will. And it would be difficult to dispel ignorance unless there is freedom to pursue the truth unfettered by fear. With so close a relationship between fear and corruption it is little wonder that in any society where fear is rife corruption in all forms becomes deeply entrenched.







Không phải quyền lực làm cho ta tha hóa mà chính là nỗi khiếp sợ. Nỗi sợ đánh mất quyền lực làm tha hóa kẻ đang nắm trong tay quyền lực và nỗi khiếp sợ bị quyền lực trừng phạt làm tha hóa người đang nắm trong tay quyền lực. Đại đa số người Miến quen thuộc với bốn hình thái tha hóa. Tham là sự tha hóa bắt nguồn từ lòng ham muốn, là sự từ bỏ chính đạo để tìm kiếm tặng vật bất chính hay những thứ mình thèm khát. Sân là việc đi vào lạc đạo nhằm trừng phạt những người mà mình ghét bỏ. Si là sự sai lầm do si đần. Nhưng có lẽ cái tồi tệ nhất trong bốn hình thái tha hóa là Úy, không phải chỉ vì khiếp nhược làm tê cứng và phá hủy dần tất cả các cảm giác về đúng / sai, mà nó thường là nguồn cội của ba hình thức tha hóa còn lại. Giống như Tham, khi không bắt nguồn từ tính hám lợi thuần túy thì có thể là sản phẩm của nỗi sợ cảnh nghèo túng hoặc sợ làm phật lòng những người mình yêu quí, nỗi sợ bị vượt qua, bị lăng nhục hoặc thương tổn theo cách nào đó có thể xô đẩy con người đến những ác ý. Cũng khó có thể xua tan u mê trừ phi có tự do theo đuổi chân lý và không bị trói buộc bởi nỗi khiếp nhược. Với quan hệ gần gũi đến thế giữa khiếp nhược và tha hóa, không có gì phải ngạc nhiên là ở bất kỳ xã hội nào, khi sự sợ hãi lan tràn, tha hóa dưới mọi hình thức sẽ bám rễ sâu trong lòng xã hội.







Public dissatisfaction with economic hardships has been seen as the chief cause of the movement for democracy in Burma, sparked off by the student demonstrations 1988. It is true that years of incoherent policies, inept official measures, burgeoning inflation and falling real income had turned the country into an economic shambles. But it was more than the difficulties of eking out a barely acceptable standard of living that had eroded the patience of a traditionally good-natured, quiescent people - it was also the humiliation of a way of life disfigured by corruption and fear.

The students were protesting not just against the death of their comrades but against the denial of their right to life by a totalitarian regime which deprived the present of meaningfulness and held out no hope for the future. And because the students' protests articulated the frustrations of the people at large, the demonstrations quickly grew into a nationwide movement. Some of its keenest supporters were businessmen who had developed the skills and the contacts necessary not only to survive but to prosper within the system. But their affluence offered them no genuine sense of security or fulfilment, and they could not but see that if they and their fellow citizens, regardless of economic status, were to achieve a worthwhile existence, an accountable administration was at least a necessary if not a sufficient condition. The people of Burma had wearied of a precarious state of passive apprehension where they were 'as water in the cupped hands' of the powers that be.



Emerald cool we may be

As water in cupped hands

But oh that we might be

As splinters of glass

In cupped hands.







Việc quần chúng không hài lòng với những khó khăn kinh tế vẫn được nhìn nhận là nguyên nhân chính dẫn tới phong trào đòi dân chủ ở Miến, được châm ngòi bởi những cuộc biểu tình của sinh viên năm 1988. Đúng là nhiều năm với những chính sách thiếu ăn nhập, các giải pháp sai lạc của chính quyền, lạm phát leo thang và thu nhập thực tế tụt giảm đã đưa đất nước đến tình trạng khủng hoảng kinh tế. Nhưng không phải những khó khăn trong việc nâng cao hơn mức sống - ở mức gần như không thể chấp nhận được - là lý do duy nhất xói mòn lòng kiên trì của người dân vốn đôn hậu và hiền lành, mà còn do sự lăng nhục bởi một lối sống bị biến dạng do tha hóa và nỗi lo sợ.

Các sinh viên đã đấu tranh không phải thuần túy vì cái chết của các chiến hữu, mà còn chống lại sự phủ nhận quyền được sống của họ bởi chính thể toàn trị - một chính thể đã tước đi sự hiện diện của lẽ phải và không đem đến bất kỳ một hi vọng nào cho tương lai. Và vì các cuộc tranh đấu của sinh viên đã truyền tải rõ ràng sự thất vọng của công chúng, những cuộc biểu tình này lan nhanh thành một phong trào toàn quốc. Một trong những người ủng hộ nhiệt thành nhất cho phong trào là các doanh gia, những người đã hình thành những kỹ năng và quan hệ cần thiết để không chỉ tồn tại mà còn giàu có trong hệ thống. Nhưng sự giàu có không đem đến cho họ cảm nhận thực sự về an ninh và thành đạt, và họ không thể không nhận thấy rằng nếu họ và đồng bào họ, bất kể địa vị kinh tế, muốn có được một sự sinh tồn khả dĩ thì một bộ máy nhà nước khả tín ít ra phải là điều kiện cần, nếu không phải là điều kiện đủ. Người dân Miến đã lo ngại về tình trạng bấp bênh của kẻ nằm dưới sự trị vì của người khác, khi mà thân phận họ "như nước trong lòng tay" của những kẻ nắm quyền lực tối cao.



Chúng ta đẹp xanh như bích ngọc

Trong lòng tay người

Nhưng hỡi ôi, chúng ta cũng có khi là

Những mảnh vỡ gương tan nát

Trong lòng tay người







Glass splinters, the smallest with its sharp, glinting power to defend itself against hands that try to crush, could be seen as a vivid symbol of the spark of courage that is an essential attribute of those who would free themselves from the grip of oppression. Bogyoke Aung San regarded himself as a revolutionary and searched tirelessly for answers to the problems that beset Burma during her times of trial. He exhorted the people to develop courage: 'Don't just depend on the courage and intrepidity of others. Each and every one of you must make sacrifices to become a hero possessed of courage and intrepidity. Then only shall we all be able to enjoy true freedom.'



Các mảnh gương vỡ, những mảnh nhỏ nhất, óng ánh và sắc nhọn, có thể tự bảo vệ mình khỏi những bàn tay muốn nghiền nát chúng là một biểu trưng sống động của tinh thần can đảm, một phẩm chất cần thiết của những người muốn giải phóng mình khỏi sự kìm kẹp của bạo quyền. Bogyoke Aung San coi mình là một nhà giải phóng và không ngừng tìm kiếm câu trả lời cho những trở ngại mà Miến Điện gặp phải trong thời khắc thử thách của dân tộc. Ông hô hào đồng bào mình hãy can đảm hơn: "Hãy đừng lệ thuộc vào lòng can đảm và tinh thần dũng cảm của người khác, mỗi người trong các bạn hãy biết hi sinh để trở thành một anh hùng và tạo dựng sự dũng cảm và can đảm của chính mình. Chỉ đến khi đó chúng ta mới có thể cùng chung hưởng tự do thật sự".

The effort necessary to remain uncorrupted in an environment where fear is an integral part of everyday existence is not immediately apparent to those fortunate enough to live in states governed by the rule of law. Just laws do not merely prevent corruption by meting out impartial punishment to offenders. They also help to create a society in which people can fulfil the basic requirements necessary for the preservation of human dignity without recourse to corrupt practices. Where there are no such laws, the burden of upholding the principles of justice and common decency falls on the ordinary people. It is the cumulative effect on their sustained effort and steady endurance which will change a nation where reason and conscience are warped by fear into one where legal rules exist to promote man's desire for harmony and justice while restraining the less desirable destructive traits in his nature.







Nỗ lực cần thiết để tránh không bị tha hóa - trong một môi trường mà sự khiếp nhược là một phần máu thịt của sự tồn tại hàng ngày - không tức khắc rõ ràng với những người có may mắn sống trong những nhà nước có sự hiện diện của pháp quyền. Luật pháp công minh không chỉ ngăn chặn sự tha hóa thông qua việc trừng phạt không thiên vị những kẻ phạm pháp. Luật pháp còn giúp tạo dựng một xã hội mà trong đó mọi người có thể thỏa mãn những yêu cầu căn bản-vốn thiết yếu cho việc bảo tồn nhân phẩm con người mà không cần phải cầu viện đến những hành vi tha hóa. Khi thiếu vắng luật pháp như thế, gánh nặng gìn giữ các nguyên tắc của công lý và sự đoan chính chuyển sang vai những con người bình thường. Chính hiệu ứng tích lũy những nỗ lực bền bỉ và sự nhẫn nại sẽ thay đổi một dân tộc - nơi lý trí và lương tri bị bóp méo bởi sự khiếp nhược- sang một xã hội mới- nơi luật pháp tồn tại là để đáp ứng khát vọng của con người về sự hòa hợp và công lý, trong khi giúp ngăn chặn những tính ác trong bản chất thiên bẩm của con người.



In an age when immense technological advances have created lethal weapons which could be, and are, used by the powefful and the unprincipled to dominate the weak and the helpless, there is a compelling need for a closer relationship between politics and ethics at both the national and international levels. The Universal Declaration of Human Rights of the United Nations proclaims that 'every individual and every organ of society' should strive to promote the basic rights and freedoms to which all human beings regardless of race, nationality or religion are entitled. But as long as there are governments whose authority is founded on coercion rather than on the mandate of the people, and interest groups which place short-term profits above long-term peace and prosperity, concerted international action to protect and promote human rights will remain at best a partially realized struggle. There willcontinue to be arenas of struggle where victims of oppression have to draw on their own inner resources to defend their inalienable rights as members of the human family.



Trong một thời đại mà sự phát triển lớn lao của kỹ nghệ đã tạo ra những vũ khí chết người-những thứ có thể được, và đang được, những kẻ nắm quyền vô đạo dùng để thống trị kẻ yếu và không có khả năng tự vệ, có một đòi hỏi cấp thiết về mối quan hệ gần gũi hơn giữa chính trị và đạo đức, trên cả cấp độ dân tộc và quốc tế. Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc khẳng định rằng tất cả mọi người và mọi hợp phần của xã hội phải đấu tranh nhằm thúc đẩy tự do và các quyền cơ bản mà theo đó mọi người, bất kể chủng tộc, quốc gia và tôn giáo đều được hưởng. Tuy nhiên, chừng nào còn tồn tại các chính quyền được thiết lập dựa trên sự áp bức thay vì sự chấp thuận của công chúng, chừng nào còn tồn tại các nhóm lợi ích chỉ biết đặt lợi nhuận trước mắt lên trên hòa bình và thịnh vượng lâu dài, thì hành động phối hợp quốc tế bảo vệ và phát huy quyền con người bất quá chỉ là một nửa cuộc đấu tranh. Vẫn sẽ có những đấu trường nơi các nạn nhân của bạo quyền phải tự dựa vào những nội lực của chính họ để bảo vệ các quyền bất khả nhượng với tư cách là những thành viên của gia đình nhân loại.







The quintessential revolution is that of the spirit, born of an intellectual conviction of the need for change in those mental attitudes and values which shape the course of a nation's development. A revolution which aims merely at changing official policies and institutions with a view to an improvement in material conditions has little chance of genuine success.

Without a revolution of the spirit, the forces which produced the iniquities of the old order would continue to be operative, posing a constant threat to the process of reform and regeneration. It is not enough merely to call for freedom, democracy and human rights. There has to be a united determination to persevere in the struggle, to make sacrifices in the name of enduring truths, to resist the corrupting influences ofdesire, ill will, ignorance and fear.



Cuộc cách mạng rốt ráo là cuộc cách mạng trong tinh thần, được khai sinh từ niềm tin trí tuệ về nhu cầu cần phải thay đổi các thái độ và các giá trị - những thứ định hình tiến trình phát triển của một dân tộc. Một cuộc cách mạng chỉ tập trung vào thay đổi các chính sách của nhà nước và các thể chế, với mục tiêu cải thiện các điều kiện vật chất, sẽ chỉ có rất ít cơ hội thành công thực sự.

Thiếu vắng cuộc cách mạng trong tinh thần, nguồn gốc tạo ra cái vô đạo của trật tự cũ vẫn sẽ tiếp tục vận hành, gây ra một đe dọa thường trực cho quá trình cải cách và phục hồi. Sẽ không đủ nếu chỉ cổ súy cho tự do, dân chủ và các quyền con người. Cần có quyết tâm thống nhất nhằm duy trì cuộc đấu tranh, chấp nhận hi sinh vì chân lý vững bền, chống lại các ảnh hưởng tha hóa của lòng ham muốn, của ác ý, của si đần và nỗi sợ.

Saints, it has been said, are the sinners who go on trying. So free men are the oppressed who go on trying and who in the process make themselves fit to bear the responsibilities and to uphold the disciplines which will maintain a free society. Among the basic freedoms to which men aspire that their lives might be full and uncramped, freedom from fear stands out as both a means and an end. A people who would build a nation in which strong, democratic institutions are firmly established as a guarantee against state-induced power must first learn to liberate their own minds from apathy and fear.



Người ta từng nói rằng các vị Thánh là những tội nhân luôn cố gắng [rửa sạch lỗi lầm của mình]. Vì thế, người tự do là những người bị áp bức luôn cố gắng và trong quá trình đó, chuyển hóa mình để thích hợp với việc gánh vác các trách nhiệm và gìn giữ các nguyên tắc cho một xã hội tự do. Trong số những sự tự do cơ bản mà con người mong ước nhằm tạo dựng một cuộc sống tràn đầy và không bị trói buộc, tự do khỏi khiếp nhược nổi lên là một phương tiện, đồng thời là mục đích. Một dân tộc muốn xây dựng một đất nước mà trong đó các thể chế dân chủ mạnh được xây dựng bền vững như là một bảo đảm chống lại sự lạm quyền của nhà nước thì trước hết phải học cách giải phóng tâm mình khỏi sự vô cảm và nỗi khiếp nhược.







Always one to practise what he preached, Aung San himself constantly demonstrated courage - not just the physical sort but the kind that enabled him to speak the truth, to stand by his word, to accept criticism, to admit his faults, to correct his mistakes, to respect the opposition, to parley with the enemy and to let people be the judge of his worthiness as a leader. It is for such moral courage that he will always be loved and respected in Burma - not merely as a warrior hero but as the inspiration and conscience of the nation. The words used by Jawaharlal Nehru to describe Mahatma Gandhi could well be applied to Aung San:

'The essence of his teaching was fearlessness and truth, and action allied to these, always keeping the welfare of the masses in view.'

Gandhi, that great apostle of non-violence, and Aung San, the founder of a national army, were very different personalities, but as there is an inevitable sameness about the challenges ofauthoritarian rule anywhere at any time, so there is a similarity in the intrinsic qualities of those who rise up to meet the challenge. Nehru, who considered the instillation of courage in the people of India one of Gandhi's greatest achievements, was a political modernist, but as he assessed the needs for a twentieth-century movement for independence, he found himself looking back to the philosophy of ancient India: 'The greatest gift for an individual or a nation . .. was abhaya, fearlessness, not merely bodily courage but absence of fear from the mind.'

Luôn là một người thực hành những gì mình kêu gọi, bản thân Aung San luôn chứng tỏ sự can đảm - không chỉ là những biểu hiện bên ngoài, mà còn là sự can đảm cho phép ông nói lên sự thật, giữ lời, chấp nhận phê bình, thừa nhận những lỗi lầm mình có và sửa chữa, tôn trọng đối lập, hòa đàm với kẻ thù và để dân chúng vào vị trí quan tòa phán xét sự xứng đáng của ông trong vai trò lãnh đạo. Chính vì sự dũng cảm đạo đức như thế mà ông luôn được kính yêu ở Miến - không chỉ với tư cách là một chiến binh anh hùng mà còn với tư cách là nguồn cảm hứng và lương tri cho cả dân tộc. Những từ ngữ do Jawaharlal Nehru sử dụng khi nói về Thánh Gandhi có thể áp dụng tốt trong trường hợp của Aung San:

"Tinh hoa trong các bài giảng của ngài là sự không khuất phục khiếp nhược và sự thật, cùng với các hành động thống nhất với hai yếu tố này luôn quan tâm đến phúc lợi của đám đông".

Gandhi, nhà truyền giáo vĩ đại của tư tưởng bất bạo động, và Aung San, người sáng lập quân đội quốc gia, là hai người có tính cách rất khác nhau, nhưng cũng giống như có sự tương đồng hiển nhiên trong những thách thức của chế độ toàn trị ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào, thì cũng có những tương đồng trong các phẩm chất vốn có ở những người đứng lên đối mặt với những thách thức ấy. Nehru, người nhìn nhận việc lan truyền lòng can đảm trong dân chúng Ấn là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của Gandhi, là một nhà chính trị canh tân, nhưng khi ông tiếp cận với các đòi hỏi của phong trào đòi độc lập trong Thế kỷ 20, ông đã nhận thấy là mình quay trở về với triết học cổ điển Ấn: "Món quà lớn nhất cho một cá nhân hay một dân tộc… là không khiếp nhược, không thuần túy là sự can đảm bề ngoài, mà còn là sự vắng bóng nỗi khiếp nhược trong tâm hồn".







Fearlessness may be a gift but perhaps more precious is the courage acquired through endeavour, courage that comes from cultivating the habit of refusing to let fear dictate one's actions, courage that could be described as 'grace under pressure' - grace which is renewed repeatedly in the face of harsh, unremitting pressure.

Within a system which denies the existence of basic human rights, fear tends to be the order of the day. Fear of imprisonment, fear of torture, fear ofdeath, fear oflosing friends, family, property or means of livelihood, fear of poverty, fear of isolation, fear of failure. A most insidious form of fear is that which masquerades as common sense or even wisdom, condemning as foolish, reckless, insignificant or futile the small, daily acts of courage which help to preserve man's self-respect and inherent human dignity. It is not easy for a people conditioned by fear under the iron rule of the principle that might is right to free themselves from the enervating miasma of fear. Yet even under the most crushing state machinery courage rises up again and again, for fear is not the natural state of civilized man.







Sự can đảm có thể là một món quà, nhưng có lẽ còn quý giá hơn nếu can đảm được khơi lên từ sự nỗ lực, thứ can đảm đến từ việc gieo trồng thói quen không để sự khiếp nhược kiểm soát hành vi của mình, thứ can đảm có thể được miêu tả bằng sự tự tại trước áp lực - sự tự tại được làm mới liên tục ngay khi đối mặt với những áp lực căng thẳng và dai dẳng.

Trong một hệ thống chính trị luôn chối bỏ sự tồn tại của các quyền con người cơ bản, sự khiếp nhược có vẻ như là thuộc tính nổi bật. Sợ tù đày, sợ tra tấn, sợ cái chết, sợ bị mất đi những bạn bè, gia đình, tài sản hay phương tiện sống, sợ đói nghèo, cô lập, trước thất bại. Hình thức quỷ quyệt nhất của sự khiếp nhược là hình thức ngụy trang dưới lẽ thường hoặc thậm chí là sự thông thái, kết án những hành vi can đảm bé nhỏ thường nhật - những hành vi giúp bảo toàn niềm tự trọng và phẩm giá ẩn chứa trong mỗi con người - là ngu ngốc, khinh suất, không đáng giá hoặc vô ích. Không dễ dàng để quần chúng đang khiếp sợ dưới sự cai trị hà khắc hiểu rằng họ có thể tự giải thoát mình khỏi bầu khí độc của nỗi sợ hãi đang làm họ kiệt sức. Ấy thế mà ngay cả khi dưới sự đàn áp của những bộ máy cai trị hà khắc nhất, tinh thần can đảm vẫn trỗi dậy hết lần này qua lần khác, vì nỗi sợ không phải là trạng thái tinh thần tự nhiên của một người văn minh.







The wellspring of courage and endurance in the face of unbridled power is generally a firm belief in the sanctity of ethical principles combined with a historical sense that despite all setbacks the condition of man is set on an ultimate course for both spiritual and material advancement. It is his capacity for self-improvement and self-redemption which most distinguishes man from the mere brute. At the root of human responsibility is the concept of peffection, the urge to achieve it, the intelligence to find a path towards it, and the will to follow that path if not to the end at least the distance needed to rise above individual limitations and environmental impediments. It is man's vision of a world fit for rational, civilized humanity which leads him to dare and to suffer to build societies free from want and fear. Concepts such as truth, justice and compassion cannot be dismissed as trite when these are often the only bulwarks which stand against ruthless power.



Suối nguồn của lòng can đảm và sự vững vàng trước bạo quyền vô hạn độ thường là lòng tin son sắt vào các giá trị đạo đức thiêng liêng kết hợp với sự hiểu biết lịch sử rằng dù cho mọi khó khăn, lịch sử loài người được đặt trên một lộ trình duy nhất là sự tiến bộ cả về tinh thần lẫn vật chất. Chính khả năng tự cải biến và sửa sai là yếu tố quan trọng nhất phân biệt con người với con vật. Cội rễ của trách nhiệm người là khái niệm hoàn mỹ, sự khao khát đạt được nó, sự thông tuệ để tìm đường đến với nó, và sự sẵn lòng đi theo con đường đó cho tới đích cuối cùng, hoặc ít ra cũng đi được khoảng cách cần thiết để vượt lên trên các giới hạn cá nhân và các trở ngại của môi trường. Chính viễn kiến của con người về thế giới tương thích với nhân tính duy lý và văn minh đã dẫn chúng ta đến chỗ dám chịu đựng mất mát để xây dựng các xã hội tự do khỏi đói nghèo và khiếp nhược. Các khái niệm như sự thực, công lý và lòng trắc ẩn không thể bị loại trừ vì lặp đi lặp lại quá nhiều trong khi chúng thường là những bức tường thành duy nhất hiên ngang chống lại bạo quyền.



(This was the first released for publication by the editor to commemorate the European Parliament's award to Aung San Suu Kyi of the 1990 Sakharov Prize for Freedom of Thought. The award ceremony took place in her absence at Strasbourg on 10 July 1991. In the same week the essay appeared in full or in part in The Times Literary Supplement, the New York Times, the Far East Economic Review, the Bangkok Post, the Times of India and in the German, Norwegian and Icelandic press.)



Daw Aung San Suu Kyi





"Suddenly I See" by TUNSTALL Her face is a map of the world Is a map of the world You can see she's a beautiful girl She's a beautiful girl And everything around her is a silver pool of light The people who surround her feel the benefit of it It makes you calm She holds you captivated in her palm Suddenly I see (Suddenly I see) This is what I wanna be Suddenly I see (Suddenly I see) Why the hell it means so much to me I feel like walking the world Like walking the world You can hear she's a beautiful girl She's a beautiful girl She fills up every corner like she's born in black and white Makes you feel warmer when you're trying to remember What you heard She likes to leave you hanging on her word Suddenly I see (Suddenly I see) This is what I wanna be Suddenly I see (Suddenly I see) Why the hell it means so much to me And she's taller than most And she's looking at me I can see her eyes looking from a page in a magazine Oh she makes me feel like I could be a tower A big strong tower She got the power to be The power to give The power to see Suddenly I see (Suddenly I see) This is what I wanna be Suddenly I see (Suddenly I see) Why the hell it means so much to me













 
 
 
 


Thơ Paris - Poèmes dédiés à Paris


Thơ Hà Nội - Poèmes dédiés à Hanoi


Thơ vinh danh Người Tù Lương Tâm - Poèmes à l'Honneur des Prisonniers de la Conscience


Thơ Tượng Trưng - Poètes Symbolistes


Thơ Siêu Thực - Poètes surréalistes


Thơ Lãng Mạng - Poètes romantiques


Thơ Hậu Hiện Đại - Poètes Post-Modernistes


Thơ Dấn Thân - Poètes engagés


Thơ Hòa Bình - Poètes pour la Paix


Thơ cho Tự Do - Poètes pour la Liberté


Thơ Lưu Đày - Poètes en exile


NGUYỄN HỮU VIỆN : Ý KIẾN Chính trị Xã hội - Phần 1


Hà Nội Một Thời Trai Chinh Chiến - Tuyển Tập Thơ Nguyễn Mạnh Hùng


Nhật Ký ĐẶNG THÙY TRÂM .. ..


Kỷ niệm Hồng Phố ...


Cuộc đời Bà Việt kiều Mỹ đẹp như một Bài thơ ...


Lễ hội Tình yêu ....(thơ nhạc tiếng Anh & Pháp do NHV tuyển chọn & sáng tác ....)


Tưởng niệm Thi sĩ Hoàng Anh Tuấn - Người Tình Chung Thủy Ngàn Năm của Hà Nội Muôn Thuở ....


Mười Năm Một Nén Hương Tâm (tưởng niệm Nhà Thơ Dân Tộc Phùng Quán)


Một Vòng Hoa cho Nhà Cách mạng Chân chính & Nhà Văn hoá Nhân bản NGUYỄN HỮU ĐANG (1913-2007)


Tưởng Niệm Húy Nhật thứ 5 Lão Tướng Trần Độ


HOÀNG SA - TRƯỜNG SA



Tưởng Niệm các Nhà Dân Chủ Việt Nam


NGUYỄN HỮU VIỆN : Ý KIẾN Chính trị Xã hội - Phần 2


Đoản thi Shakespeare


Thơ Tình cho LARA - Tuyển tập Thơ trong Tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago


Les Miserables musical


Thi sĩ Giải Nobel Văn chương




Lãng Tử - Lãng Du - Lãng Nhân


Tuyển Tập Ảnh


Beethoven gửi Người Yêu Bất Tử : "An Die Fern Geliebte - Gởi Người Yêu Trời Viễn Phương"


Blue Ocean - Biển Xanh - Océane Bleue


My Faraway White Dove ...


Chúc Mừng Xuân Kỷ Sửu 2009 HẠNH PHÚC - YÊU ĐỜI ...


Kỷ Niệm Biến Cố THIÊN AN MÔN 20 Năm (1989-2009)


Aung San Suu Kyi : Linh Hồn của Phong Trào Dân Chủ Miến Điện


Trang Tưởng Niệm Những Con Người Khả kính ...và những Cánh Chim Việt lìa Đàn ...


Những bài thơ .....


Dalena : Nữ ca sĩ yêu ca hát Nhạc Việt với tất cả Tình yêu và Đam mê ...


Ca Nhạc Kịch Evita : Xin Đừng Khóc Thương Cho Ta Á Căn Đình !


Anthologie de la Poésie pour François - Poetry Anthology for François


Tuyển tập Thi ca Việt Nam Hiện đại - Anthology of Modern Vietnamese Poetry


Tuyển tập Thi ca Việt Nam Hiện đại - Anthologie de la Poésie Vietnamienne Moderne


Những tình khúc Anh - Pháp - Việt - Tây Ban Nha


Thủ đô Ánh sáng qua Thi ca


Giáo sư Vũ Quốc Thúc


Thơ Yêu Nước LÝ ĐÔNG A


Céline ! ! ! ...


PARIS : chansons + songs


"Hoàng Hôn Thôn Vỹ"


Prix NOBEL : Pablo NERUDA + Gabriel Garcia Marquez


Les plus belles chansons pour MAMAN et PAPA - The most beautiful songs for MOTHER and FATHER


Academy Award for Best Animated Short Film


ROMEO and JULIET - Shakspeare


HANOI, PARIS, LONDON, .... SAIGON, WASHINGTON ... Top songs


My Teachers, My Schools, My Dog and My Friends ....


Les Chansons berceuses pour notre Titi François


Oh ! Paris !


Golden Globe Award for Best Original Song


Academy Award for Best Original Song


La Mode Parisienne - The Paris Fashion


2014 : Bonne chance François ! ...


Ý KIẾN Nguyễn Hữu Viện PHẦN 3


Ý KIẾN Nguyễn Hữu Viện PHẦN 4


Academy Award for Best Original Score - Giải Oscar cho nhạc phim hay nhất


Ý Kiến NGUYỄN HỮU VIỆN phần 5


The Velours and Orange Revolutions


John McCain